GIA PHẢ – CÁC NỘI DUNG CHÍNH CẦN CÓ

TSKH Bạch Quốc Khang-
Hiện nay, các gia tộc họ Bạch chúng ta đang hoàn thiện hoặc viết mới gia phả của dòng họ. Đây là công việc vô cùng quan trọng, tạo lập nền tảng phát triển bền vững của gia tộc. Với những chi họ đã có Gia phả biên soạn công phu, bài bản rồi, thì qua từng giai đoạn phải cập nhật tiếp các đời. Với những chi họ chưa có, thì phải lập gia phả.
Vậy lập gia phả, hoàn thiện gia phả của một gia tộc nên làm như thế nào? Ở đây tôi xin nêu những nội dung rất cơ bản để giải đáp câu hỏi này trên cơ sở tổng hợp nhiểu nguồn tư liệu và các quan điểm tân cổ kết hợp.
1. Gia phả là gì
Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, ngày giỗ, vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tổ tiên và mộ phần… của một gia đình lớn hay một dòng họ. Đó là cuốn sách ghi chép lai lịch, thân thế và sự nghiệp từng người trong gia tộc, theo thứ tự các đời
Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ, còn gọi là Tộc phả, Phổ ký, Phổ truyền, Phú ý. Các hoàng gia, các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan) gọi gia phả của vương triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc phả, Thế phả… Dù gọi theo tên nào thì gia phả luôn là gia bảo với những người có ý thức tôn kính tổ tiên và quý trọng tình cảm họ hàng gia tộc.
Ở nước ta, nhiều gia tộc trước đây chỉ có những bản gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha.
Theo các nhà sử học, gia phả có thể đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ, hoặc gần hơn tức là từ thời Lý Nam Đế (khoảng nǎm 503-548). Nhưng phải đến thời nhà Lý, nhà Trần (từ thế kỷ 13 trở đi) mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích toàn họ), phả ký (ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên).
Việc lập gia phả rất công phu, phức tạp, gặp nhiều khó khăn do thất lạc thông tin, sự phân tán của các thành viên gia tộc… Vì thế phải làm từng bước. Trước hết cần lập Cây Gia phả (Phả đồ), để biết dòng truyền thừa từ cụ Thủy tổ đến các đời sau như thế nào. Tiếp đó viết Phả hệ, trình bày cặn kẽ dòng truyền thừa qua các chi, Phái, Ngành, Nhánh, hàng, tiểu hàng… của gia tộc. Sau đó viết Phả ký, là phần bao quát toàn bộ lịch sử phát triển của dòng họ…
2. Các thông tin chính đưa vào gia phả
Gia phả được coi là đầy đủ về nội dung phải các thông tin chính sau:
1) Thông tin về người biên soạn, sao lục gia phả.
2) Nguồn gốc xuất xứ của gia tộc (phả ký hoặc gia sử).
3) Thủy Tổ của dòng họ.
4) Từng phả hệ phát sinh từ Thủy Tổ cho đến các đời con cháu sau này, được thể hiện dạng sơ đồ (phả đồ),
5) Đối với các tiền nhân cần có các chi tiết sau:
• Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường. Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ai?
• Ngày tháng năm sinh (nếu có), năm mất, giờ (nếu nhớ). Mộ nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Thời gian nào?
• Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất.
• Vợ: chánh thất, kế thất, thứ thất… Họ tên, con thứ mấy của ai? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
• Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu bố nhiều vợ thì ghi theo từng bà? Con gái thì cước chú kỹ: con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).
• Con nuôi: nếu con nuôi lập tự (là con nhận nuôi của người trong họ, cùng huyết thống nội thân) thì vẫn phải ghi rõ và phần con cháu phía sau người con nuôi này ghi như bình thường. Nếu là con nuôi hạ phóng thử (trẻ mồ côi đem về nuôi từ bé, con thai hoang đem về nuôi…) phải ghi rõ nhận nuôi năm nào. Nếu bố nuôi là tộc trưởng vẫn không được kế thế tộc trưởng mà vai trò tộc trưởng thuộc con trai trưởng của chú em.
• Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng… Những lời dạy bảo con cháu đời sau (di huấn), những lời di chúc…
Ngoài những mục ghi trên, với một tộc họ lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái đã chuyển đi nơi khác. Trong gia phả cũng cần ghi những thông tin chi phái, người bắt đầu chi, chi hiện ở đâu, nhà thờ chi ra sao…
Nếu có thì đưa thêm các thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân, các câu đối, sắc phong v.v.   Có gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt hay giai thoại của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn trước tác hay, những bài thuốc gia truyền…
Hiện trạng phổ biến hiện nay là các gia tộc không ghi chép được đầy đủ thông tin về các tiền nhân, nhất là từ 7 đời trở về trước. Vì thế, các nội dung chi tiết nêu trên thường chỉ là mong muốn. Con cháu ngày nay nhớ được đến đâu thì ghi gia phả chừng đó, không nên suy đoán thiếu căn cứ, kiến thông tin để lại cho các thế hệ sau thông tin sai lệch.
6) Tiếp theo, là tộc ước. Đây không phải là nội dung bắt buộc, nhưng với những gia tộc đã lập được tộc ước, thì nên đưa nội dung này vào gia phả.
Tộc ước là những quy định, quy ước trong tộc họ, đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội phạt, tất nhiên là phải phù hợp với luật pháp chung (có bải riêng nói về tộc ước).
3. Cấu trúc của một bản gia phả
Xét về nội dung, một bản gia phả có Lời nói đầu, phần Chính văn và phần viết thêm. Để tiện vận dụng trong thực tế, tôi xin nêu rõ cấu trúc gia phả theo cách trình bày, gồm ba phần: Phả ký, Phả hệ và Phả đồ.
1) Phả ký 
Là tất cả những phần ghi chép lột tả những nội dung chính của cả lời tựa, chính văn và phần viết thêm, gồm những nội dung về xuất xứ, nguồn gốc của dòng họ, quá trình phát triển gia tộc, sự hợp nhất, chia tách các chi nhánh của họ tộc; những di sản, đặc điểm của dòng họ được lưu truyền; tộc ước; người ghi chép, biên soạn, sao lục, nghiên cứu tập hợp thông tin, bổ sung gia phả… Đây là phần quan trọng, khi đọc sẽ hiểu được tinh thần chủ yếu của bản phả.
2) Phả hệ
Là phần trình bày quan hệ thế thứ của các thành viên trong họ tộc. Xem nội dung này ta có thể biết được vị trí, vai vế, tên tuổi của từng người, người đó thuộc đời thứ mấy trong họ, là con ai, sinh ra những ai…
Thông thường có ba cách trình bày phả hệ: viết theo chiều ngang, viết theo chiều dọc và viết kết hợp ngang dọc.
– Viết theo chiều ngang là viết lần lượt các đời trong họ; sau đời thứ nhất đến đời thứ hai, hết đời thứ hai đến đời thứ ba, hết đời thứ ba đến đời thứ tư… Ưu điểm của cách viết này là khi xem ta biết ngay người đó ở đời thứ mấy, mỗi đời có bao nhiêu người… Tuy nhiên nó có nhược điểm là không biết được mối quan hệ chung và rất khó theo dõi. Cách viết theo chiều ngang thường chỉ áp dụng cho một gia đình ba, bốn đời, còn đối với một họ tộc có nhiều đời thì ít thấy sử dụng.
– Viết theo chiều dọc là chia dọc từng chi, từng cành trong họ để viết. Viết hết chi một đến chi hai, hết chi hai đến chi ba… Mỗi chi có thể tách thành một chương. Trong mỗi chi (chương) lại chia ra từng cành (phái), hết cành một đến cành hai, hết cành hai đến cành ba… Tương tự như trên, trong mỗi cành (phải) lại chia viết từng nhánh nhỏ (Ngành). Ngành lại chia thành Nhánh, Nhanh lại chia thàng Hàng, rồi tiểu Hàng… Đây là cách viết phổ biến, dễ theo dõi, các nhà viết phả xưa nay hay dùng. Tuy nhiên cách này khó tìm nhân sự theo đời.
– Viết ngang dọc kết hợp: Một cách viết khác là viết kết hợp ngang dọc. Cách viết này tuy dài nhưng người xem dễ nhận biết. Nội dung chính vẫn được viết theo phương pháp dọc, nhưng sau (hoặc trước) khi trình bày dọc, trình bày tóm tắt theo hàng ngang, chủ yếu chỉ viết họ tên, nếu có thể viết bổ sung một số thông tin chủ yếu nhất của mỗi người.
3) Phả đồ (còn gọi là cây phả hệ):
Là hình thức biểu thị phả hệ theo sơ đồ để khi nhìn vào người ta có thể nắm bắt một cách tổng thể mối quan hệ thế thứ trong họ tộc. Thông thường có ba cách trình bày phả đồ:
– Trình bày theo hình cây: đây là cách trình bày một số người dựng phả trước đây hay dùng. Bắt đầu từ gốc là đời thứ nhất, mọc ra các cành, cành phía trái là chi trên, cành phía phải là chi dưới. Tương tự vậy, trong mỗi cành lại có các cành nhỏ phân chia từng lớp từng tầng. Cách trình bày này khá sinh động, xem dễ hiểu nhưng cũng khó trình bày, nhất là đối với các họ lớn có nhiều đời.
– Trình bày theo vòng tròn đồng tâm: Vẽ các vòng tròn đồng tâm, cụ Tổ đời thứ nhất ở trung tâm, vòng thứ hai là đời thứ hai, vòng thứ ba là đời thứ ba… Hình thức này cũng dễ xem nhưng chỉ áp dụng cho một gia đình ba, bốn đời, còn họ tộc đông người thì khó thể hiện. Nói chung hình thức này ít được áp dụng.
– Trình bày theo sơ đồ tổ chức: Đây là hình thức phổ biến được nhiều người sử dụng. Có thể vẽ theo hai cách: theo chiều dọc và theo chiều ngang.
+ Vẽ theo chiều dọc: đời thứ nhất đặt ở trên cùng, lan tỏa xuống đời thứ hai, thứ ba, thứ tư…theo hàng ngang tương ứng phía dưới. Trong mỗi hàng, người phía trái là anh chị, người phía phải là em. Mối quan hệ trực tiếp được biểu thị bằng mũi tên hoặc đường dẫn nối
+ Vẽ theo chiều ngang: đời thứ nhất đặt ở bên trái, các đời tiếp theo lan tỏa sang phải theo hàng dọc, chi trên ở trên, chi dưới ở dưới.
Đặc điểm của hình thức vẽ theo sơ đồ tổ chức là dễ theo dõi, trình bày được một cách tổng thể, nhất là trong điều kiện sử dụng máy vi tính ngày nay, nếu đông có thể cắt ngang, cắt dọc trình bày các sơ đồ nối tiếp nhau, người xem vẫn có thể theo dõi được toàn diện.
4. Một số lưu ý
 1) Trong Phả hệ và Phả đồ cách viết thứ tự các đời thế nào?
Một chi tiết cần quan tâm là cách trình bày thứ bậc của mỗi người trong phả hệ và phả đồ để khi xem có thể nhận biết ngay người đó thuộc đời thứ mấy trong họ, con thứ mấy trong gia đình. Có 3 hình thức hiện được những người viết phả hay sử dụng:
– Ghi rõ thế hệ trực thuộc (đời thứ mấy).
– Dùng số thứ tự một số để chỉ thế hệ trực thuộc.
– Dùng số thứ tự hai số (như 2.1, 2.2; 3.1, 3.2 …), trong đó số thứ nhất biểu thị thuộc đời thứ mấy, số thứ hai biểu thị là con thứ mấy.

Đối với những gia tộc có nhiều đời (trên 10 đời), việc dùng bộ chữ số để thể hiện số đời, số con của một đời là không khả thi, vì còn số của chi, phái, ngành, nhánh, hàng, tiểu hàng… Bộ chữ số có thể lên tới trên 10 con số, không thể theo dõi được và rất khó hình dung ra vị trí của một người trong gia phả. Vì thế, với mỗi người đều phải có dẫn giải ngắn gọn bằng lời về số đời, thuộc chi, phái, ngành, nhánh, hàng, tiểu hàng nào…

Ngoài ra, việc nhắc tên các cụ tổ chỉ, ngành, nhánh… trong các đời cũng giúp các con cháu cùng dòng truyền thừa của chi, phái, ngành, nhánh đó dễ nhận ra nhau.

 2) Cách tiếp cận đối với phái nữ ngày nay
Các cụ ngày xưa đã chú trọng đưa vào gia phả các thông tin cốt yếu của phái nữ với tư cách là người vợ của phái nam. Tuy nhiên, do thái độ phân biệt giới, các thông tin về nữ hệ thường thiếu hụt hoặc không có.
Ngày nay, tư tưởng, chính sách bình đẳng giới ở nước ta ngày càng phổ cập, nữ hệ ngày càng được tôn trọng trong tổ chức và hoạt động dòng họ. Nữ hệ bao gồm con gái và con dâu. Con gái cũng là người cùng huyết thống, cùng dòng họ như nam giới. Con dâu tuy khác họ, khác huyết thống với các đời từ chồng trở về trước, nhưng lại hòa huyết với chồng sinh ra và nuôi dưỡng những người con mang họ chồng, từ đó trở đi lại là người cơ chung huyết thống với dòng họ.
Như đã nêu ở phần nội dung phía trên, chúng ta nên chú trọng hơn đến các thế hệ nữ giới trong gia tộc, lục tìm và đưa thêm các thông tin về nữ hệ, nhất là với các cụ tằng tổ khảo, cao tổ khảo (4-5 đời) trở lại, trong khi đang nắm được đầy đủ thông tin cần thiết.
Trên đây là một số điều cần biết về xây dựng gia phả dòng họ. Chúc các gia tộc ngày càng hoàn thiện các thể chế vật thể và phi vật thể của dòng họ, lưu truyền mãi mãi về sau.
Sơ đồ gia phả chưa đầy đủ của Chi Giáp, Họ Bạch La Khê, Hà Đông (Đang cập nhật, hoàn thiện)
Sơ đồ một chi nhánh thuộc Họ Bạch Công Ba Trại, Ba Vì, Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *