HỌ BẠCH Ở TÂY NGUYÊN – TỪ ĐÂU ĐẾN[1]

Thật bất ngờ khi biết Đăk Lăk, Đăk Nông là những tỉnh có nhiều người họ Bạch. Nghĩa là họ Bạch đến sinh cơ lập nghiệp ở đó đã khá lâu.

Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không có họ Bạch. Vậy họ Bạch từ đâu đến đó, đến khi nào?

Phải chăng là họ Bạch người Mường. Vì người Mường khi di cư có thể chọn những địa bàn như Buôn Ma Thuột và các vùng xung quanh, hợp với văn hóa truyền thống và cách tổ chức cuộc sống của họ.

Theo Tổng điều tra dân số năm 2019, sau những tỉnh có đông người Mường nhất nước ta là Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La… thì Đăk Lăk là tỉnh đông người Mường thứ sáu cả nước. Gần 16 nghìn người Mường sống ở đó, chủ yếu tập trung ở thành phố ở Buôn Ma Thuột và một số huyện lân cận. Đa số vẫn giữ được phong tục tập quán nguồn gốc và bản sắc văn hóa dân tộc mình[1].

Trong chiến tranh chống Mỹ từ những năm 1960 đến 1975, giữa Đăk Lăk và các tỉnh phía Bắc bị ngăn bởi giới tuyến sông Bến Hải, không thể có dòng di dân nào đi qua. Nếu người Mường đến đó sau hòa bình lập lại năm 1975, thì quá muộn để Đăk Lăk trở thành tỉnh đứng thứ sáu cả nước về dân số Mường. Nếu đến trước 1975 thì khi nào?

Lịch sử của Tây Nguyên đã hé mở cơ hội di dân của người Mường từ Bắc vào đó. Tây Nguyên (được gọi là Đêga) từ nguyên thủy ngày xưa vốn là vùng tự trị độc lập, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số bản địa người Êđê, Giarai, Mạ…

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được vua Champa, sáp nhập ba phần năm lãnh thổ Champa vào Đại Việt. Hai phần Champa còn lại, được vua Lê chia thành các tiểu quốc thuần phục Đại Việt. Vùng đất miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương[2].

Chúa Nguyễn Hoàng khi cát cứ phía Nam cũng ra sức loại trừ ảnh hưởng còn lại của Champa, phái một số sứ đoàn đến Tây Nguyên thiết lập quyền lực.

Sang đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng đưa lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ “Đại Nam nhất thống toàn đồ” năm 1834. Người Việt (Kinh) đã chiếm dần đất đai, đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Cao Nguyên.

Đến năm 1905 người Pháp trực tiếp cai trị vùng Cao nguyên. Thời Pháp thuộcngười Kinh bị hạn chế lên đó.

Như vậy, trong các đợt biến động dân tộc nói trên chưa thấy bóng dáng người Mường từ miền Bắc đi vào Tây Nguyên.

Đến giữa thế kỷ XX diễn ra cuộc di cư lớn năm 1954 từ miền Bắc vào Nam khi miền Bắc được giải phóng, trong đó nhiều người lên Tây Nguyên, khiến số người Kinh ở Tây Nguyên tăng lên. Thời điểm đó Chính phủ Ngô Đình Diệm đưa lên Cao Nguyên gần 54 nghìn người.

Thì ra người Mường ở Buôn Ma Thuột là di cư từ năm 1954, có nguồn gốc từ Mường Phú Thọ và Hòa Bình. Đó cũng là những quê hương của họ Bạch người Việt bản địa.

Đến đây, tôi tin chắc thời điểm đầu tiên họ Bạch xuất hiện Tây Nguyên là năm 1954 theo người Mường di dân từ Phú Thọ và Hòa Bình.

Thời nhà Nguyễn, tuy họ Bạch từ miền Bắc và Bắc Trung Bộ vào miền Trung, nhưng đều là người Kinh. Họ sẽ không lên Cao Nguyên, nếu không có lý do đặc biệt. Chẳng hạn tham gia sứ đoàn của nhà Nguyễn lên đó thiết lập quyền lực. Tuy nhiên, ngay đầu triều vua Gia Long, họ Bạch ở Gia Định, Nghệ An, Thanh Hóa bị lùng bắt. Việc họ Bạch tham gia vào các sứ đoàn đó rất khó xảy ra.

Đã có trường hợp hy hữu, một số người họ Bạch thời Nguyễn bị truy sát, phải chạy từ Gia Định ra miền Trung. Có người đã lên Tây Nguyên sống với người thiểu số, nhưng chỉ là số ít, không đáng kể.

Ngoài đợt di dân năm 1954, còn một số thời điểm họ Bạch có thể đã đến và ở lại Tây Nguyên. Đó là hàng chục nghìn người lính bộ đội Cụ Hồ chiến đấu ở Tây Nguyên đã hạ sao, gác súng làm kinh tế từ cuối năm 1973, ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Ban đầu thành lập Binh đoàn 773, gồm bốn Đoàn kinh tế tương đương với bốn trung đoàn, là các Đoàn 731, 732, 733 và 734. Họ làm nhiệm vụ ở Gia Lai, Kon Tum và Đăk Lăk[3].

Đến tháng 4 năm 1974 Đoàn tiếp nhận thêm 2.500 quân là bộ đội các tỉnh Hà Tây, Hà Bắc, Nghệ An. Họ còn tiếp nhận hai khung nông trường chi viện, gồm 300 cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật.

Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, họ tiếp quản các vùng giải phóng của ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Đăk Lăk.

Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cuối những năm 1970, đầu 1980 Đoàn còn được bổ sung thêm 23.000 người từ các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hưng yên, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh và Bắc Giang. Vào Đăk Lăk là người từ các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Hải Dương.

Họ thành lập các nông trường cà phê, cao su, các công ty xây dựng thủy lợi, hạ tầng cơ sở giao thông, khai khẩn và phát triển vùng đất Tây Nguyên. Nhờ công sức của họ mà có một Việt Nam – đất nước xuất khẩu cà phê và cao su nổi tiếng thế giới.

Đến nay những người lính trụ lại ở đó đã truyền được ba đời, lập nên các công ty trong Tổng Công ty Cà Phê Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam… Nhiều người trong gia đình họ từ quê ngoài Bắc cũng vào Tây Nguyên đoàn tụ, lập nghiệp.

Người bà con họ Bạch của chúng ta có thể đã từ Bắc Giang, Bắc Ninh, Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An đi vào đó, cùng những người của Binh Đoàn Tây Nguyên năm xưa đã và đang làm nên các kỳ tích ở Trung Nguyên.

Nhiều người họ Bạch tuổi còn trẻ ở Tây Nguyên hiện nay còn đến từ các tỉnh miền Nam theo yêu cầu công tác và lý do khởi nghiệp, sinh kế. Bởi thế, sự lan tỏa của họ Bạch thời hiện đại là vô tiền khoáng hậu. Việc kết nối, thành lập hệ thống mạng lưới Họ Bạch cả nước là việc làm rất có ý nghĩa. Chúng ta tuy ít người, nhưng ai cũng năng động, yêu quê hương, yêu gia tộc. Điều đó giúp chúng ta trở mạnh mẽ và hạnh phúc!

TSKH Bạch Quốc Khang

[1] Bạch Quốc Khang: Họ bạch Việt Nam – Hành trình đi tìm tổ. Nxb Thanh niên, 2024
[2] Người Mường. bách khoa thư wikipedia, [32] [3] Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục. Lê Quý Đôn toàn tập, trang 42-43 [32.7] [4] Ban Liên Lạc truyền thống Đoàn 331: Đoàn 331 – Một chặng đường. Nxb Hội Nhà Văn, 2011

#lichsudongho

#nghiencuulichsuvanhoahobach

#nguongochobachvietnam

#nguongoccacgiatocdiaphuong

#thuvienthamkhao #hobach #hobachvietnam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *