Bạch Quốc Khang
Ảnh Bạch Hồng Vinh
Người Hà Nội hầu như ai cũng đã có lần đến Huế, biết hát những bài Huế thương, Huế mưa, Huế mộng mơ, Huế Sông Hương Núi Ngự… Kể từ 2024, với chúng tôi Huế còn là quê hương của những người bà con họ Bạch, hàng trăm năm trước đã rời xứ Bắc vào Huế. Vì thế, mong muốn trở lại Huế thương càng thêm thôi thúc.
Lên kế hoạch suốt cả năm 2025 mà đến tháng Giêng 2026 mới thực hiện được mong muốn ấy trong chuyến công tác vào Quảng Ngãi dự Lễ Giỗ Tổ Họ Bạch Tư Nghĩa. Đúng 6 giờ sáng ngày mùng 1 đầu năm, xe của Đoàn HBVN lăn bánh từ Hà Đông, trực chỉ hướng Nam.
Nhờ đi sớm 2 ngày, nên trước khi đến Quảng Ngãi Đoàn có hơn 24 giờ tìm hiểu các chi họ Bạch ở Huế. Trước chuyến đi mới chỉ kết nối được với 2 chi họ Bạch Chơn ở làng Đồng Di, xã Phú Hồ và Bạch Văn ở làng An Nông, xã Hưng Lộc, TP Huế. Trong chuyến đi này chúng tôi kết nối được thêm với 03 chi họ Bạch Văn, Bạch Ngọc ở làng Phước Linh, phường Mỹ Thượng và Bạch Trọng ở làng Sư Lỗ, xã Hưng Lộc. Nhưng vẫn chưa hết.
Hơi tiếc là anh Bạch Chơn Đông – Ủy viên Ban Liên lạc, Tổng đại diện HBVN ở Huế lại đi Singapore. Bù lại, anh đã bố trí Bạch Chơn Cường – Ủy viên Ban Thư ký HBVN cùng với anh Bạch Văn Thanh – UV Ban LL HBVN, đại diện họ bạch ở An Nông, bác Bạch Trọng Quả, đại diện họ Bạch Trọng ở Sư Lỗ và em Bạch Chơn Hiếu đang công tác ở Sở Nội vụ TT Huế đưa đón đoàn. Nhờ mấy anh em đó mà chỉ trong 24 giờ, chúng tôi đã đến thăm được 05 chi họ.
Và thế, bức tranh về họ Bạch ở Thừa Thiên Huế trở nên đầy đủ hơn, nhiều sắc màu hơn, và Huế trở nên thân thương hơn.
1. ĐẾN VỚI CHI HỌ BẠCH VĂN Ở PHƯỚC LINH
Chiều ngày 2/1 thời tiết báo mưa, nhưng Huế lại nắng rất đẹp. Đầu tiên chúng tôi đến thăm chi họ Bạch Văn ở Phước Linh qua đầu mối liên hệ là anh Bạch Quang. Đón chúng tôi là các bác Bạch Vân, Bạch Hiền, Bạch Văn Thi v.v..
Làng này trước thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, nay là phường Mỹ Thượng, TP Huế. Ở đó có 02 chi họ cùng chung một gốc là Bạch Văn và Bạch Ngọc. Họ Bạch Văn ở Phước Linh đã truyền được 16 đời, tương đương khoảng 400 năm, hiện có khoảng 50 hộ gia đình. Cụ Thủy Tổ là Bạch Văn Trực, thấy bảo từ Thanh Hóa vào đây cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Họ vẫn giữ được Gia phả và Mộ Thủy Tổ, hàng năm giỗ Thủy Tổ vào ngày 15/12 âm và làm 5 kỳ giỗ cho các cụ tổ 5 đời đầu.
Nhà thờ Phước Linh xây dựng từ năm 1936, mới xây lại năm 2025, phân công mỗi năm một gia đình trông coi nhà thờ. Hàng tháng thắp hương hai ngày Sóc, Vọng.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH DÒNG HỌ BẠCH VĂN Ở PHƯỚC LINH

2. ĐẾN VỚI CHI HỌ BẠCH NGỌC Ở PHƯỚC LINH
Bạch Ngọc ở Phước Linh là chi họ tách ra từ gốc họ Bạch Văn, truyền đến nay được 14 đời. Trưởng tộc là bác Bạch Ngọc Kỷ. Đón chúng tôi còn có các bác ở đời 11 là Bạch Ngọc Dũng, Bạch Ngọc Hiệp v.v..
Nhà thờ Bạch Ngọc xây dựng đã hơn 100 năm, sửa lại năm 1976. Đến năm 2017 thì xây dựng mới. Cụ Tổ là Bạch Ngọc Cơ, giỗ ngày 14/5 âm (là ngày hiệp kỵ). Hàng năm còn tổ chức giỗ tổ ngày 14 tháng 12 âm. Số hộ ở làng khoảng 20 còn đi xa thì nhiều hơn, khoảng trên 40 hộ.

3. ĐẾN VỚI CHI HỌ BẠCH CHƠN Ở ĐỒNG DI
Rời Phước Linh chúng tôi đến thăm họ Bạch Chơn làng Đồng Di, xã Phú Hồ. Đây là quê hương của các anh Bạch Chơn Đông, Bạch Chơn Cường, Bạch Chơn Hiếu, Bạch Chơn Lừa. Họ Bạch Chơn truyền được 13 đời. Trưởng họ là bác Bạch Chơn Tiền – thuộc đời thứ 8 trong gia phả. Chi họ khá đông người, khoảng 80 hộ. Giỗ Tổ vào ngày 6/10 âm. Lễ nghi giỗ tổ đã được quy video clip đưa lên facebook Họ Bạch Việt Nam. Hiện không nhớ tên cụ Thủy tổ, từ đâu đến, đến khi nào, chỉ biết là họ Bạch có nguồn gốc từ miền Bắc. Hàng năm sau Tết, chi họ đến tham gia giỗ Tổ với họ Bạch ở An Nông.

4. ĐẾN VỚI CHI HỌ BẠCH TRỌNG Ở SƯ LỖ
Cùng xã Phú Hồ có chi họ Bạch Trọng ở làng Sư Lỗ. Các cụ ở đây nói có nguồn gốc từ Nghệ An – Hà Tĩnh vào. Bác Bạch Trọng Quả đưa chúng tôi từ Huế về thăm họ nhà. Họ Bạch Trọng truyền được 14 đời, có gia phả, nhà thờ. Giỗ Tổ ngày 14/12 âm. Trước năm 1975 nhà thờ bị phá hủy, đến năm 2000 được xây mới. Hiện nay chi họ có khoảng 50 cặp vợ chồng, với nhân khẩu khoảng 200 người. Nhiều người đi làm ăn xa. Hiện Trưởng tộc là bác Bạch Trọng Tin, là trưởng Chi 1 của Phái 2, do Phái 1 không truyền được đến nay.

5. ĐẾN VỚI CHI HỌ BẠCH VĂN Ở AN NÔNG
Sáng 3/1 chúng tôi đến thăm họ Bạch Văn ở làng An Nông, xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc cũ, nay là xã Hưng Lộc, TP Huế. Trưởng họ là bác Bạch Văn Lý – ủy viên Ban Liên lạc HBVN. Bác Lý sinh năm 1951, đón chúng tôi trong bộ áo dài gấm màu xanh lam bó lấy vóc dáng thanh tao, mới trông tưởng già, khi cười thì thấy trẻ. Cũng như ở Phước Linh, họ Bạch đến An Nông đã được 16 đời, với khoảng 250 đinh (trai đã có vợ). Hàng năm sau Tết, họ Bạch An Nông làm giỗ tổ Đại Tôn trong ba ngày 13, 14 và 15 tháng Giêng, mời chín chi họ Bạch có chung quan hệ nguồn gốc từ các nơi quanh Huế về dự.
Thật ngạc nhiên, ở An Nông có 13 cụ thuộc đời thứ 8 vẫn còn sống, được coi là các bậc thúc phụ của họ. Để so sánh, Họ Bạch La Khê của tôi cũng có 16 đời, nhưng từ đời 11 trở lên không còn ai đang sống. Nhiều cụ ở đây thọ lâu. Cụ Bạch Văn Phụng 90 tuổi còn đi xe đạp đến nhà thờ tiếp chúng tôi. Cụ cao tuổi nhất đã 95, vẫn còn khỏe mạnh, tham gia sinh hoạt gia tộc rất nhiệt tình.
Họ Bạch An Nông tổ chức theo mô hình HĐGT, Trưởng tộc kiêm Chủ tịch HĐGT. Bác Bạch Văn Phước – nguyên Hiệu trưởng ba Trường PTCS, được cử làm Thư ký HĐGT. Họ ở đây có nhà thờ, tộc ước và gia phả. Bản gia phả cổ viết bằng Hán tự vẫn giữ được, được sao dịch song ngữ năm 1958. Ở trang phả ký có đoạn: “Ngài Thủy Tổ họ ta đến kiến cơ lập nghiệp tại bản xã, truyền hệ thống đến nay kể đã nhiều thế kỷ lắm! Nhưng trong thời gian ấy có Ngài võ lược Khuôn Vương, tiếng tăm lừng lẫy trong nước, cũng có Ngài chuân lao kiến thiết, đức hạnh thấm nhuần trong dân, thật là một họ có danh vọng ở trong hương thôn vậy”.
Nhà thờ xây dựng đã hơn 100 năm, đầu thập niên 1900 của thế kỷ 20, nằm trong khuôn viên có thể nói là đẹp nhất ở Huế, rộng hơn 5 sao Trung Bộ, trên 2.500 mét vuông, dáng dấp một thành lũy, phía trước có hồ (chuông) vuông vức. Giữa hồ lại có đảo nổi.

Quần thể kiến trúc nhà thờ họ Bạch ở Huế nói chung, ở An Nông nói riêng, đều bố trí theo trục dọc. Từ trước đến sau là Thanh La (cổng vào) -> Bình phong -> Sân rộng -> Tiền Đàng -> Hậu Tẩm. Thanh La là hình ảnh đầu tiên của dòng họ trước mắt thiên hạ, thể hiện sự tôn nghiêm, uy thế của dòng họ. Vì thế có gia tộc xây dựng Thanh La giống như tam quan cổng chùa, đắp rồng. Có nơi dựng thành cổng lớn lợp mái và chạm trổ công phu, mở theo trục chính giữa đất nhà thờ. Sau bình phong là sân rộng. Tiền Đàng là công trình nhà 3 gian cao lớn, có nóc và 2 mái riêng, đứng trước và liên thông với Hậu Tẩm, làm thành 2 dãy nhà 3 gian liên thông nhau. Khi làm giỗ tổ, Hậu Tẩm là để tế liệt vị hương linh các tiền bối 6 đời đầu của gia tộc. Hương linh các cụ từ đời 7 về sau thì được tế ở Tiền Đàng, không vào trong.
Nhà thờ các chi họ đều có 3 gian. Gian giữa thờ Thủy Tổ, hai gian bên thờ các Tổ Phái. Ở mỗi gian đều có bát hương ngoài và bát hương trong. Bát hương trong thờ hương linh Tổ tiên như nói trên, còn bát hương ngoài thờ các ngài cao vị hơn bát hương trong, tượng trưng cho thần linh, nguồn gốc, xuất xứ của họ Bạch. Kiến trúc và văn hóa thờ cúng tổ tiên ở Huế và các tỉnh miền Trung có những phổ quát chung, khác biệt thú vị với miền Bắc và miền Nam, đặc trưng là kiến trúc không gian nhà thờ rộng lớn, các cột và mái cổng, mái nhà, bình phong được đắp hình nổi chạm trổ rất công phu, tinh xảo. Ở Tiền Đàng kê các bộ bàn ghế, sập để ngồi tiếp khách, bày cỗ cúng. Hậu Tẩm bên trong có các đồ thờ, chủ yếu là hương án phía trước, ngai và bài vị ở phía sau, chia ra hai phần thờ cúng phía trước và phía sau. Các hương án thường không rộng, kiểu dáng tủ thờ, bằng gỗ hoặc đắp xi măng chạm trổ, màu sắc rất đẹp. Cửa vòng thường đắp bằng xi măng.
Ở Huế, các dòng họ tách thành các phái, trong phái có các chi. Kinh phí tổ chức việc họ thu theo cặp vợ chồng (2 xuất). Trai chưa vợ thì không phải đóng. Cặp nào mất 1 thì chỉ đóng 1 xuất. Đinh là người đã có vợ.
Trừ chi họ An Nông, các nơi khác không tổ chức khuyến học dòng họ, mà tham gia chung vào khuyến học của làng.
Ở Thừa Thiên Huế còn có chi họ Bạch ở Lương Văn (tức Thủy Lương cũ) thuộc phường Hương Thủy TP Huế; hai chi họ (Bạch Văn và Bạch Đức) ở Chuồi thuộc địa phận Lăng Cô; chi họ ở Lăng Cô (có thể là một trong hai chi họ ở Chuồi); chi họ Bạch Nguyện ở thôn Mông Xê thuộc xã Phú Đa. Tính ra tất cả có khoảng 9-10 chi họ. Các chi họ này chúng tôi chưa liên hệ được, đành nhờ anh Bạch Chơn Cường – Ủy viên Ban Thư ký HBVN theo dõi miền Trung rà soát và thu thập thông tin chi tiết để kết nối.
Theo lời các cụ ở đây, Họ Bạch từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh theo đường biển vào Huế, đầu tiên đến Phước Linh – một làng ven biển. Rồi từ đó đến An Nông ngay trong đời đầu tiên (đến nay cùng được 16 đời). Điều này tương tự như tôi đã viết trong cuốn “Họ Bạch Việt Nam – Hành trình đi tìm tổ” năm 2024. Thời điểm sớm nhất họ Bạch có thể từ miền Bắc vào Huế là sau năm 1306, khi vua Chăm Pa là Chế Mân nhượng hai châu Ô và Lý làm quà cưới công chúa nhà Trần là Huyền Trân. Từ đó nhà Trần đưa người từ các tỉnh phía Bắc vào để Việt hóa hai châu này.
Tuy nhiên, mối lương duyên cung đình này không bền lâu, bởi sau khi Chế Mân chết năm 1307, nhà Trần đưa Huyền Trân Công chúa trốn về Bắc. Sự việc này cùng với ý muốn đòi lại hai châu Ô, Lý của nhiều người Chăm đã châm ngòi cuộc chiến Đại Việt – Chăm Pa ròng rã qua hai giai đoạn (1311-1312) và (1367-1396).
Có thể có người họ Bạch đã vào hai châu Ô và Lý từ đầu và trụ lại sau cuộc chiến 2 năm (1311-1312) mà Đại Việt là bên thắng cuộc, Chăm Pa trở thành chư hầu của Đại Việt. Nhưng ở giai đoạn sau, khi Chế Bồng Nga lên ngôi năm 1360, đòi lại các vùng đất đã dâng, thì cuộc chiến 30 năm (1367-1396) người Chăm chiến thắng, Thành Thăng Long nhiều lần rơi vào tay họ. Chiến tranh và tù binh, chiếm đất và di dân là những lý do mà nhiều dòng họ người Việt từ phương Bắc dịch chuyển vào Nam, trong đó có họ Bạch. Có thể các chi họ Bạch ở Thừa Thiên Huế có nhiều xuất xứ, nghĩa là có các nhóm khác nhau di cư đến.
Theo nhà thơ Bạch Văn Thanh (đã mất), thì họ Bạch từ Huế tỏa đi các tỉnh miền Trung, từ Đà Nẵng trở vào. Duy chỉ có họ Bạch ở Phan Rang là không phải từ Huế đến.
Với mạng lưới kết nối dòng họ giữa Huế và các tỉnh phía Nam, phía Bắc và sự đông đúc các chi họ Bạch ở Huế như thế, chúng tôi lòng vui như mở hội. Đây là điều kiện rất thuận lợi để tổ chức sự kiện của Họ Bạch Việt Nam tại Huế, thu hút được sự quan tâm của bà con họ Bạch cả nước.
Chia tay Huế vội vàng để đi tiếp vào Quảng Ngãi, nhưng lòng bịn rịn không muốn rời. Vẫn biết sẽ còn trở lại để nghiên cứu kỹ hơn mạng lưới các gia tộc và khảo sát địa điểm tổ chức các sự kiện lớn của Họ Bạch Việt Nam ở đây, nhưng 24 giờ làm việc với những người bà con chân tình ở Huế đã quá đủ để chúng tôi yêu quý nhau, nhớ về nhau. Có nhiều điều chưa kịp nói, đi rồi mới tiếc. Có những việc làm vội vã, đi rồi mới thấy chưa xong. Hẹn các bác, các anh chị em lần sau trở lại!





