XÂY DỰNG TỔ ĐƯỜNG HỌ BẠCH VIỆT NAM – CẢ NƯỚC HƯỚNG VỀ BA VÌ

TSKH Bạch Quốc Khang

Xây dựng Nhà Thờ HBVN là nguyện vọng vô cùng lớn lao của người họ Bạch cả nước, là nhu cầu sâu xa của tổ chức HBVN. Tổ Đường chung sẽ là thiết chế văn hóa tối quan trọng của Họ Bạch Việt Nam, là nền tảng đa mục đích với chức năng cốt lõi như đã nêu trong các sách Kinh Lễ (禮記), Gia Lễ (家禮), Tông pháp thưi: “Tôn tổ – kính tông – giáo hậu(Tôn kính tổ tiên – giữ mạch tông tộc – dạy dỗ con cháu):

(1) Đó sẽ là nơi thờ cúng các Cụ Tổ, các nhân thần, danh nhân của họ Bạch cả nước; tổ chức các sự kiện lớn, các hoạt động dòng họ toàn quốc;

(2) Là nơi tập hợp, bảo tồn, tôn vinh, giới thiệu hệ thống kết nối các gia tộc, nguồn gốc lịch sử, văn hóa và truyền thống xây dựng và phát triển dòng họ của các gia tộc, các tấm gương tiêu biểu của người họ Bạch Việt Nam;

(3) Là nơi tập hợp và giới thiệu sự kết nối với họ Bạch các nước trên thế giới.

Xây dựng Nhà Thờ HBVN vì thế không thể là dự án mang tính khoa trương, gấp gáp cho “bằng anh bằng em”, hoặc mang tính hình thức lấy tiếng cho nhiệm kỳ… Đó phải là dự án mang tính nền tảng lâu dài hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm. Kinh đô của quốc gia có thể nhiều lần di dời, nhiều lần thành phế tích, nhưng khởi thủy tâm linh của dân tộc thì không. Hơn hai nghìn năm vẫn linh thiêng Núi Tản. Đã bốn nghìn năm vẫn hướng về Nghĩa Lĩnh – Đền Hùng.

Tổ Đường HBVN cần phải là khởi thủy linh thiêng của tín ngưỡng “Tôn tổ – kính tông – giáo hậu”. Tính bền vững lâu dài phải dựa vào ý nghĩa lịch sử, tâm linh, phong thủy của vùng đất, công trình phải có giá trị văn hóa đích thực đối với các gia tộc, có tác động gắn kết máu thịt trong toàn cộng đồng Họ Bạch Việt Nam.

1. Các tiêu chí chọn địa điểm xây dựng Tổ đường chung

Địa điểm xây dựng Tổ Đường cần đáp ứng ba yêu cầu chính:

(1) Không nhất thiết phải trên đỉnh núi thật cao[[1]], nhưng nên là vùng đất có năng lượng tâm linh tốt, gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc ở vùng miền đó, liên quan đến nguồn gốc xuất xứ của Họ Bạch Việt Nam, sự ra đời của cụ Tổ HBVN, tạo niềm tin về sự phù hộ, độ trì của Trời Đất, Tổ Tiên, tạo được sức hút của họ Bạch cả nước hướng về cội nguồn, trợ lực cho các gia tộc cả nước phát triển lâu dài, bền vững, tỏa sáng.

(2) Địa điểm xây dựng có lợi thế về diện tích đất đai đủ rộng, giá trị đất phù hợp với khả năng của HBVN, có tính ổn định vững chắc về pháp lý, có ưu điểm về phong thủy, như thế đất, hướng đất… tạo niềm tin tâm linh tốt lành, được phép chuyển đổi để xây dựng công trình tâm linh của Tổ đường HBVN.

(3) Có gia tộc họ Bạch sở tại liền kề, hoặc gần đó với khoảng cách dễ dàng đi lại hàng ngày, đảm nhận công việc quản lý, giúp duy trì các hoạt động thường xuyên của Nhà Thờ, hỗ trợ tổ chức các sự kiện lớn.

Ngoài ra cần lưu ý đến yếu tố địa lý, thuận tiện giao thông và khả năng mở rộng trong tương lai… Ba Vì là vùng đất hội tụ những giá trị đặc biệt như thế một cách đáng ngạc nhiên.

2. Ba Vì với Núi Tản là vùng đất linh thiêng bậc nhất nước Việt

(1) Gắn với Lạc Long Quân, Âu Cơ và nguồn gốc các Vua Hùng:

– Theo huyền sử: Lạc Long Quân (Sùng Lãm) là con Kinh Dương Vương (Lộc Tục), là người chinh phục, dọn dẹp thế giới, mở mang bờ cõi Văn Lang. Ngài đánh bại 3 thế lực phá hoại khủng khiếp nhất:

+ Thủy quái Ngư Tinh – tượng trưng cho sức mạnh tàn phá của đại dương giông bão, xác lập chủ quyển lãnh hải;

+ Cáo Chín đuôi, Hồ Tinh vùng đồng bằng đầm lầy – tượng trưng cho các thế lực thù địch, những bộ lạc khác, băng cướp hung tàn chuyên cướp bóc và bắt người;

+ Quái vật Mộc tinh, ẩn nấp trong rừng sâu, thay hình đổi dạng để bắt người, tượng trưng cho sự mênh mông khó lường của rừng núi, bệnh tật, lam sơn tử khí.

Sau khi chinh phục, khai hóa thiên nhiên. Lạc Long Quân dạy dân trồng lúa, đốn gỗ làm nhà, chuyển từ săn bắn, hái lượm sang trồng trọt, định cư. Rồi Ngài lấy vợ, sinh con, lập quốc. Thật bất ngờ, nơi Ngài gặp gỡ Âu Cơ nên duyên chồng vợ lại chính là chân Núi Tản.

– Theo Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, Âu Cơ là con Đế Lai ở hồ Động Đình giáng xuống núi Tản. Lạc Long Quân gặp Âu Cơ tại đây, nhờ đó kết thành vợ chồng, sinh 100 trứng, mở ra thời kỳ Văn Lang với các triều đại vua Hùng.

Điều đặc biệt là, cùng với cuộc chia tay lịch sử giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ là sự phân chia lãnh thổ: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải chia tách riêng. Năm mươi con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Năm mươi con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc[[2]].

Con trưởng đi theo mẹ Âu Cơ xưng Hùng Quốc Vương, đã “chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh, Thuỷ tinh, định làm trăm vương, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương”.

Năm mươi tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. Năm mươi tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, cùng là các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ[[3]].

Từ đây thành lập nước Văn Lang với 15 bộ được sử sách sau này ghi lại. Và cũng từ mốc niên đại này, các họ mẫu hệ cổ xưa nhất (tộc tính) của người Việt ra đời.

Nơi bà Âu Cơ sinh con chính là bờ bên Đất Tổ Phú Thọ nhìn sang Núi Tản. Theo Nguyễn Hữu Nhàn trong “Nguồn gốc tộc người vùng Đất Tổ” [66.6], thì bà Âu Cơ hạ sinh tại Thanh Thủy, là huyện nằm bên bờ tây sông Đà, trong khi núi Tản nằm bên bờ đông sông Đà. Khúc sông Đà đó sau này trở thành trung tâm nổi tiếng, sánh ngang với kinh kỳ.

(2) Núi Tản là hồn thiêng sông núi nước Nam:

– Ba Vì – Núi Tản gắn với sự tích Sơn Tinh – Thủy Tinh, cuộc giao đấu giữa vị thần đất và thần nước, thần núi núi non và thần sông bể; gắn với tinh thần trị thủy bất khuất ngàn đời của người Việt, với văn minh lúa nước xuất hiện hơn 6000 năm trước;

– Đây là nơi thờ ba vị thần hiển linh bậc nhất nước Việt: Tản Viên Sơn Thánh (đứng đầu trong Tứ Bất Tử); Cao Sơn Đại Vương; và Quý Minh Đại Vương. Các vị Thần này được thờ ở rất nhiều địa phương trên khắp Văn Lang (Miền Bắc hiện nay).

(3) Vùng Núi tản từng là một trong những trung tâm phát triển sớm của người Việt cổ, thuộc trấn Sơn Tây, một trong Tứ Trấn Thăng Long:

Thứ nhất Kinh kỳ

Thứ nhì (ghềnh) Bợ Bạc

Bợ Bạc là tên đôi bến bờ của khúc sông Đà chảy quanh chân núi Tản (Đản), nơi dừng chân của thuyền bè trong dòng chảy vòng vo trước khi mạo hiểm vượt Thác Bờ, hay rộng ra là vượt “trăm bẩy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” của Tây Bắc. Nhờ huyệt mạch như vậy mà Bợ Bạc sớm trở thành thị tứ sánh ngang với kinh kỳ. Bợ Bạc trở thành thị tứ ít nhất là từ TK 16 dưới thời Mạc (sau khi nhà Mạc bỏ Thăng Long chạy lên Tây Bắc cầm cự)

3. Ba Vì là gốc văn hóa của người Việt cổ, gắn với nguồn gốc họ Bạch bản địa Việt Nam:

Điều bất ngờ tiếp theo khi nhận ra Ba Vì là chiếc nôi văn hóa của người Việt cổ. Người Việt cổ chính là người Việt-Mường và vùng núi Tản là gốc văn hóa người Mường. Họ Bạch là một trong bốn họ Nhà Lang lớn. Họ Bạch xuất hiện gắn với chế độ quan lang của người Việt cổ, mà Ba Vì là một phần của sự tích Lạc Long Quân – Âu Cơ – Văn Lang.

Trước hết,  Ba Vì là Đất Tổ của người Việt Mường, chứ không phải ở các mường lớn Bi (Tân Lạc)– Vang (Lạc Sơn)– Thàng (Cao Phong)– Động (Kim Bôi) ở Hòa Bình. Theo các tài liệu về Hòa Bình, tỉnh này có 9 huyện và một thành phố. Trong đó có 81 mường nằm trên lãnh thổ của 9 trên 10 đơn vị đó. Là “Thủ đô người Mường”, nhưng chính “Nhà Mường họcTừ Chi đã không tin ở Hòa Bình có chiếc nôi văn hóa mường. Ông nêu nghi vấn này, khiến nhà sử học Trần Quốc Vượng (TQV) phải lao vào cuộc. Cuối cùng, TQV nói: “Đất Tổ người Mường là ở chân núi Ba Vì”[[4]]. Ở đó có trầm tích văn hóa “Bua Pa Ví” (Vua Ba Vì). Nhiều vùng đất từ xưa đã có tín ngưỡng thờ Bua Pa Ví hay Đức Thánh Tản. Từ Văn Chấn, Phù Yên (Nghĩa Lộ), đến vùng Mường Cẩm Thủy, Thạch Thành, Thọ Xuân, Ngọc Lặc… (xứ Thanh), ở đâu cũng có nét trội trong thế giới tâm linh người Mường, là tín ngưỡng thờ Bua Pa Ví, cho dù người Mường các xứ ấy chưa bao giờ nhìn thấy hay đến thăm Ba Vì. Từ đó suy ra vị Tổ huyền thoại của người Việt – Mường chính là “Vua Ba Vì” – Thánh Tản Sơn Tinh.

– Như trên đã nói, theo Hùng vương Thánh Tổ Ngọc Phả, chế độ quan lang bắt nguồn sau khi Lạc Long Quân và Âu Cơ tách 100 con. Con trưởng theo mẹ, xưng vương, là Vua Hùng Quốc Vương, đặt tên nước là Văn Lang, chia quốc gia thành 15 bộ, với hàng trăm vùng, cử hàng trăm vương đứng đầu hàng trăm bộ tộc, chia thành trăm họ, hình thành chế độ quan lang… Từ đó xuất hiện các dòng họ quan lang lớn của người Việt cổ là Đinh, Quách, Bạch, Hoàng.

Từ đó, có thể thấy Ba Vì là nơi Đất Tổ của người Việt Mường và cũng là một trong các địa phương Đất Tổ của họ Bạch bản địa người Việt.

4. Núi Tản Ba Vì và cụ Tổ Bạch Công 3.300 năm trước

– Tra khảo các Thần tích, cụ Tổ họ Bạch bản địa xuất hiện đầu tiên trong thần tích là cụ Bạch Công triều Hùng Vương thứ 9 Hùng Định Vương (1331-1252 TCN). Cụ có thể có liên quan đến Núi Tản.

Hùng Định Vương gặp Công chúa Xuân Dung ở núi Hùng (Nghĩa Lĩnh), lấy làm vợ, sinh ra 3 hoàng tử. Hoàng tử đứng đầu sinh ngày 10/2 năm Đinh Mùi gọi là Bạch. Ông Bạch mất ngày 10/3 năm Ất Hợi.

Một năm sau khi ông Bạch mất, ngày 3/1 năm Bình Tý, vua Hùng sắc phong ông là Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, Bạch Tướng Thần Quan Bảo Quốc An Dân Tôn Thần Thượng Đẳng và sai thờ cúng ở 77 đền[5]. Trong khi đó, Núi Tản là gốc tích thờ Cao Sơn Đại Vương (đời Hùng Vương 18 cùng với Tản Viên Sơn Thánh).

Cao Sơn là thần hiệu chung cho các vị thần núi, có công lao, được phong ở nhiều đời Hùng Vương khác nhau, được thờ ở nhiều địa phương. Thần hiệu Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương cũng được phong cho hoàng tử con thứ của Mẫu Âu Cơ ở đời Hùng Quốc Vương, là người đã ở lại trang Hiền Lương giúp vua dẹp giặc, giữ nước, được thờ ở Đền Mẫu Âu Cơ, xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ [IV.B.3]. Thần hiệu này còn của chính vua Hùng thứ nhất[[6]].

Giữa huyền tích – thần tích và sử liệu là hai tư duy khác nhau. Chuyện lẫn lộn giữa các đời Hùng Vương là không hiếm. Ví dụ: Sơn Tinh được coi là con Âu Cơ (là em Hùng Quốc Vương, thế hệ vua Hùng thứ 1), theo cha xuống biển, rồi nhớ mẹ ngược sông, ngược suối trở về non theo mẹ (theo huyền tích). Rồi cũng nhân vật này lại trở thành Sơn Tinh cưới công chúa Ngọc Hoa đời Hùng Vương 18 (trong thần tích). Theo tư duy lịch sử đấy là sự “Thác ngộ thời gian”. Tư duy huyền thoại, huyền tích không phải là tư duy lịch sử. Vì thế dòng thời gian đắp đổi nhau, “xuyên đại”, “liền tù tì”, chẳng có trước, sau…  Có thể, nhiều nơi sau này trong quá trình lưu truyền sự tích thần thoại đã gộp Thần Cao Sơn Bạch Công đời Hùng Vương 9 với Thần Cao Sơn đời Hùng vương 18.

Theo góc nhìn đa chiều, liên ngành, tạm thời có thể thấy Ba Vì là vùng đất thuộc Đất Tổ linh thiêng, gắn với sự tích hình thành Văn Lang và các vua Hùng, có liên quan đến việc thờ cúng vị thần họ Bạch đầu tiên của nước ta.

5. Ba Vì – nơi hội tụ đầy đủ các điều kiện xây dựng Tổ Đường Họ Bạch Việt Nam

Với các yếu tố tâm linh, văn hóa và nguồn gốc Họ Bạch đã nói trên, Ba Vì – Núi Tản là vùng đất thỏa mãn một cách lý tưởng điều kiện đầu số (1).

Hiện quỹ đất ở một số xã tại Ba Vì khá thuận lợi để khai thác, cho phép có được diện tích đất đai đủ rộng, có thể chọn được lô đất có ưu điểm về phong thủy, thế đất, hướng đất. Giá trị đất tuy đã tăng lên trong 2 năm gần đây, nhưng còn phù hợp với khả năng của HBVN. Lại có khả năng tạp lập được tính ổn định vững chắc về pháp lý. Như vậy, Ba Vì hoàn toàn đáp ứng điều kiện thứ (2).

Tại Ba Vì vùng chân núi Tản có Gia tộc Họ Bạch Ba Trại, người dân tộc Mường. Đây là dòng họ có truyền thống văn hóa bản địa và không ngừng phát triển, đã sống nhiều đời trên địa bàn này, đến nay được 12 đời, có có cấu tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, hoạt động nề nếp, người dân hiếu khách… Nếu chọn đất Ba Trại, thì Tổ đường sẽ nằm lọt trong lòng gia tộc họ Bạch Ba Trại, rất thuận lợi trông coi, quản lý, duy trì tổ ấm tâm linh cho Họ Bạch cả nước.

Ngoài đáp ứng đầy đủ ba điều kiện chính nói trên, việc chọn đất Ba Vì còn được cộng thêm nhiều ưu thế quan trọng khác.

Đó là, nằm trên tuyến du lịch rất hút khách. Ba Vì hàng năm thu hút du khách cả nước đổ về nhờ các công trình tâm linh của Sơn Tinh, Đền thờ Bác Hồ trên núi Ba Vì, Khu K9, Khu du lịch Vườn QG Ba Vì và nhiều resort hoạt động quanh năm trong khu vực. Nhờ gắn với các chuỗi du lịch như thế, Ba Vì sẽ thu hút được người họ Bạch cả nước đổ về với Tổ đường.

Hơn nữa, ngày Giỗ Tổ Bạch Công – Cao Sơn Đại Vương trùng ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3), cháu con họ Bạch quy tụ về Tổ đường, kết hợp được với thăm Đền Hùng.

Ba Vì lại gần với trung tâm cả nước. Hà Nội là địa bàn họ Bạch lớn nhất cả nước. Ba Vì gần trung tâm Thủ Đô, chỉ cách 45 km; cách Đền Hùng 43 km; ngay kề Núi Tản; cách các trung tâm họ Bạch lớn khác ở miền Bắc trong vùng trên dưới 100 km như Hòa Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hưng Yên… Đường giao thông từ các tỉnh về Hà Nội và từ Hà Nội đến Ba Vì rất thuận tiện.

6. Kết luận

Có thể còn có những địa điểm khác hội tụ được nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng theo kết quả tìm hiểu, các vùng đất đó không có lợi thế một cách toàn diện như Ba Vì. Nơi có giá đất thuận lợi, lại bất lợi về vị trí địa lý và các yếu tố tâm linh, hoặc nguồn gốc, gia tộc, và ngược lại.

Bởi thế, phương án có điểm kỳ vọng cao nhất chính là Ba Vì. Rất mong họ Bạch cả nước cùng tìm hiểu, thảo luận kỹ càng, để có chung quan điểm và quyết tâm thực hiện khát vọng lớn lao nhất của chúng ta.

[[1]]Sơn bất tại cao, hữu thần tắc linh” (Núi không phải chỉ do cao, cứ có thần tiên là núi thiêng)

[[2]] Nguyễn Đức Tố Lưu, Nguyễn Đức Tố Huân, Thích Tâm Hiệp: Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả sưu khảo. Nxb Lao động, 2022.

[[3]] Nguyễn Đức Tố Lưu, Nguyễn Đức Tố Huân, Thích Tâm Hiệp: Tài liệu đã dẫn.

[[4]] Trần Quốc Vượng: Văn hóa Việt Nam những hướng tiếp cận liên ngành. Nxb Văn học 2015, tr 73-84.

[5] Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Thần tích thôn Ngọc Nhi, xã Tiên Phú, Tổng Khải Xuân, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Bản dịch của ThS Trương Văn Thắng, 9/6/2024. Địa danh này hiện là nay là xã Tiên Phú, huyện Phù Ninh, tỉnh Phủ Thọ.

[[6]] Nguồn https://www.youtube.com/watch?v=kzilyqFSTX4

 

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *