KÝ ỨC ĐỒNG LỆ – MIỀN QUÊ NGOẠI

Bạch Hồng Vinh

Làng Đồng Lệ, xã Hợp Đồng, huyện Chương Mỹ (thị trấn Chúc Sơn) là quê ngoại của tôi. Ông ngoại tôi Trương Viết Phùng, người làng thường gọi là ông Hào, con nhà nghèo nhưng có số đào hoa bén duyên với lần lượt 3 người vợ. Mẹ tôi là con của bà thứ hai, được sinh ra vào những năm đầu Cách mạng 1930.

Dân làng còn truyền tai nhau qua mấy thế hệ, cho đến tận bây giờ câu chuyện ông đã có công giữ lại Đình cho làng như thế nào.

Thời giặc Pháp còn đô hộ, chúng đã đặt những đội quân lính (người Việt) được gọi là lính khố xanh khố đỏ làm tay sai, giám sát từng ngôi làng, đi lùng sục bắt bớ các cán bộ Việt Minh hoạt động. Ông tôi là thủ từ trông coi Đình làng, có uy tín với bà con làng xóm. Ông khá thông minh, tuy không biết chữ Quốc ngữ, nhưng lại giỏi Hán nôm và biết nói tiếng Pháp. Bọn quan Hai, quan Ba của Pháp còn nhận ông là papa nuôi (tôi tự suy diễn: chắc là với ý định lấy lòng ông để dễ bề cai trị dân chúng, hoặc có thể cũng là gây nghi ngờ chia rẽ với dân làng, với Cách mạng).

Thời đó phong trào hoạt động của Việt Minh đang lan toả, Đình làng lại là nơi trang nghiêm, dân làng không ai được vào hậu cung, dâng lễ cũng chỉ đứng ngoài chắp tay vái vọng, chỉ có ông là thủ từ được đi ra đi vào. Vì vậy, cán bộ Việt Minh ẩn mình hoạt động trong Đình mà dân làng cũng không ai hay biết.

Chỉ đến khi bọn Lý trưởng, Xã trưởng nghi ngờ, chúng bắt trói ông vào cây rơm ở sân Đình, đe doạ nếu không khai ra cán bộ thì chúng sẽ thiêu chết ông và đốt cả Đình làng để không còn nơi chứa chấp Việt Minh.

Đình làng Đồng Lệ ngày nay

Dân làng kéo nhau ra xem, mẹ tôi khi đó còn bé, cùng bà ngoại chỉ biết đứng khóc và vô cùng sợ hãi.

Đến lúc căng thẳng tột độ, có xe chở thằng quan Hai Pháp đến, nó nói chuyện với ông một hồi, sau đó mới sai cởi trói cho ông. Nó cũng đe doạ dân làng không ai được chứa chấp Việt Minh, không thì sẽ bị trừng trị không tha.

Dân làng thở phào nhẹ nhõm vì đã giữ lại được ngôi Đình thiêng liêng cũng như không phải chứng kiến người con của làng bị giết hại.

Câu chuyện là nỗi ám ảnh rất lớn cả đời của mẹ tôi.

Một thời gian dài sau đó, thế nào đấy mà ông ngoại tôi lại làm thủ nhang trông nom Đền Bà Kiệu. Nay Đền vẫn nằm bên Hồ Gươm, ngay cạnh tượng đài Cảm tử cho Tổ Quốc quyết sinh, hướng nhìn ra Đền Ngọc Sơn và Tháp Rùa.

Mẹ kể, mỗi lần có lễ rước Kiệu, mẹ nhìn ông rất sợ, ông tợp mấy ngụm rượu rồi bắt đầu lấy dải lụa đỏ buộc vào cổ, cứ mỗi lần dậm chân mạnh một cái, kèm thêm tiếng h..ừ..m, là một lần ông thắt mạnh sợi dây lụa vào cổ, đúng như kiểu thắt cổ, rồi máu dồn mạnh lên mặt, mặt ông đỏ tía, phồng lên, mắt trợn quắc lên trông rất dữ tợn. Hai má ông bị xiên qua bởi một thanh thép nóng, gọi là tục xiên lình.

Một bên treo bình vôi, một bên treo gì mẹ tả tôi không nhớ. Và ông dẫn đầu đoàn rước Kiệu, đi khắp xung quanh Bờ Hồ, rồi đi vào những phố cổ, vòng vèo mãi mới quay trở lại Đền Bà Kiệu. Dì tôi thì kể lại với em tôi là ông còn rước Kiệu vào Đền Bạch Mã – một trong Tứ trấn Thăng Long. Con nhang đệ tử khắp mọi miền đổ về Hà Nội dự lễ đông lắm, người đi theo đoàn rước và xem rước chật cả phố.

Mỗi lần ông thắt cổ như vậy, bà ngoại tôi chỉ sợ ông quá tay chết người, bà vừa khóc vừa để cái đũa vào cổ ông để dây lụa ko thắt chặt, còn ông thì cứ quát: bỏ… ra…bỏ…ra…

Kiệu rước lễ ở đình Đồng Lệ

Xưa, lệ lên đồng hầu giá các Quan khổ cực, mà oai phong lắm chứ đâu có sặc sỡ và hào nhoáng như bây giờ đâu. Em tôi có khoe với tôi rằng dạo năm 2010, Hà Nội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, em tôi có đọc được một bài báo in giấy của UNESSCO giới thiệu về nét văn hóa đặc sắc của Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu, rước kiệu. Ảnh minh họa có ảnh chụp ông tôi trong đoàn rước kiệu. Em tôi có cắt lại mẩu báo đó đưa Dì tôi giữ, nhưng bây giờ không thấy đâu.

Sau, Pháp bắt bỏ hết mọi cuộc tụ tập đông người, ông tôi mở cửa hàng đóng giày. Ông bà và mẹ ở ngõ Hàng Hương (phố Cửa Đông Hà Nội bây giờ) và mở cửa hàng giày tại phố Mã Mây hay Hàng Buồm gì đó, tôi không nhớ rõ. Khách hàng là bọn Pháp và công chức người Việt.

Vì không biết chữ Quốc ngữ , ông thuê người làm để giao dịch giấy tờ. do tin người mà ông bị người làm thuê cướp trắng cả cửa hàng.

Mẹ tôi, sinh ra từ làng quê, mẹ tròn trịa bầu bĩnh nên gọi là cái Bầu, mẹ kể hồi bé thơ hay bị ma trêu chọc, đang ngồi trên chõng tre ngoài sân chơi ngoan, tự dưng cứ lăn đùng ra khóc ngằn ngặt, ông ngoại lại bẻ cành dâu, vừa đập vừa quát cái gì đấy, mẹ lại dậy ngồi chơi ngoan bình thường.

Tuổi thơ mẹ lớn lên cùng thời kỳ đất nước nô lệ, hết bọn Pháp với lính khố xanh khố đỏ, lại đến bọn Nhật lùn lúc nào cũng có cái kiếm dài lắm, dân làng ai nhìn thấy cũng sợ. Bọn giặc nào cũng lùng sục bắt Việt minh, bọn giặc nào cũng gây nợ máu với đồng bào mình.

Có lần dân làng đang cấy lúa dưới ruộng, nghe tiếng súng nổ, thấy lính khố xanh khố đỏ lố nhố trên triền đê lùng bắt Việt minh. Có lần lại thấy giặc Tây bắn chết người, dân lúc nào cũng lo sợ, đi đâu cũng lo lắng.

Mẹ cũng bạo dạn hơn so với tuổi. Hồi 9 tuổi, lần đầu tiên một mình mẹ lần mò tìm đường từ quê lên Hà Nội để tìm chị, chị là con của bà cả, nhà chị ở phố Chùa Vua. Thấy mẹ tôi, chị mừng lắm, dắt đi khoe khắp phố: nó còn bé mà đã đi từ quê lên đây để tìm chị, sao mà nó giỏi thế.

Có lần, bọn quan Pháp nói chuyện với ông, đòi gả mẹ cho nó, cả ông và mẹ đều thấp thỏm lo lắng.

Lớn lên ở Hà Nội, mẹ tham gia đội Thanh niên xung phong, gánh đất đắp đường Cổ Ngư, con đường này sau được đổi tên thành đường Thanh niên.

Thời còn làm TNXP, mẹ làm A trưởng đội cầu đường. Có lần bị nước lũ cuốn phăng gần hết một đại đội TNXP, mẹ và số ít người đi xem văn công biểu diễn thì thoát chết. Có lần Đài truyền hình Hà Nội cử người đến phỏng vấn, mẹ có trả lời, nhưng khi họ mời mẹ lên Đài TH thì mẹ từ chối, dường như mẹ vẫn có nỗi niềm nào đó không nói ra được, anh em chúng tôi vận động mẹ cứ lên Đài TH, họ hỏi gì trả lời đấy, nhưng mẹ nhất quyết không đi.

Khi miền Bắc bắt tay vào công cuộc xây dựng CNXH, tiếp tục chi viện cho miền Nam, mẹ chuyển công tác về Nhà máy sửa chữa ô tô 3/2, nằm ngay cạnh bệnh viện Bạch Mai. Những lần bom Mỹ đánh phá, nhà máy phải sơ tán, mẹ được tín nhiệm làm thủ kho giao trông giữ toàn bộ tài sản của nhà máy, một cái kim sợi chỉ cũng không bị mất mát.

Cả đời mẹ vất vả, những lúc có “điều kiện”, nhưng mẹ luôn giữ bản chất trung thực, thẳng thắn và sống nặng tình cảm. Cuộc sống nghèo khó của gia đình thời chiến tranh, rồi đến thời bao cấp. Tôi là út ít, nên sự nếm trải cũng bớt đi nhiều.

Nhà 9 miệng ăn, các con lại tuổi đang lớn ăn rất khoẻ, mẹ vô cùng vất vả nhưng tôi chẳng thấy mẹ kêu ca bao giờ. Thậm chí thấy mẹ bày ra cái gì, đàn con ăn hết luôn, chẳng nghĩ đến chuyện bữa sau còn gì để ăn không, nhưng cũng chẳng thấy mẹ nói gì.

Thiếu đói là vậy, nhưng mẹ vẫn chắt chiu dành dụm, lâu lâu lại mua một vài thứ mang về quê, dâng ra Đình làng.

Trong lòng mẹ luôn nhớ về quê hương, về nơi chôn nhau cắt rốn. Làng quê thì mãi vẫn nghèo khó, Đình làng lâu năm rồi nên xuống cấp, mẹ xót xa lắm, nhưng mẹ cũng nghèo, chẳng làm gì được to tát, chỉ khi thì đôi lục bình nho nhỏ, khi thì đôi lọng, khi thì tấm vải thêu rồng thêu phượng, rồi một vài đồ thờ đặt lên ban…

Mỗi lần mẹ về quê, anh em chúng tôi đi theo mẹ, nhưng các anh chị thì mải vui chơi, tôi thì bé cũng không để ý. Nhưng người làng thì để tâm đến, mỗi lần mẹ về là tiếng chào hỏi cứ rộn ràng: bà và các cháu ở ngoài Hà Nội lại về chơi à…

Tôi nhớ hình ảnh mẹ tươi cười chào hỏi người làng, giới thiệu từng đứa con, chúng tôi thì cũng dạ vâng chào. Mẹ dẫn chúng tôi đi từng nhà, kể cho chúng tôi về từng mối quan hệ. Lần nào về quê cũng vậy, nhưng thú thật tôi không nhớ ai với ai, chỉ biết người trong họ gần thôi. Nhưng người làng thì biết rõ mẹ và anh em chúng tôi hết cả đấy.

Đình làng tôi được xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia, được nhà nước đầu tư mười mấy tỉ đồng, phục dựng lại toàn bộ phần hậu cung.

Mấy hôm vừa rồi, lễ hội Đình làng tổ chức to lắm, diễn ra 4 ngày 3, 4, 5, 6//3 Quý Tỵ, nhưng trước đó đến 20 ngày, các thôn xa làng gần đã tấp nập đổ về dự hội vui lắm rồi, các trò chơi dân gian mở sớm cho mọi người tham gia, rồi hội chợ ẩm thực với đủ các món khiến vùng quê yên bình bỗng chốc nhộn nhịp cả tháng trời, dân làng già trẻ gái trai ai cũng hào hứng lắm.

 

Tôi về trước các anh chị 2 ngày để dự lễ hội Đình làng, các anh chị về sau. Trong lúc tha thẩn ra Đình xem dân làng chuẩn bị cho các công việc lễ, khá nhiều các ông, các bác cao tuổi thấy tôi thì hỏi: “Cô ở Hà Nội về dự hội làng à?”. Tôi đáp “Vâng ạ” thì họ lại nói “Cô giống bà Bầu” (tên mẹ tôi khi còn ở làng, mới đầu tôi còn không biết đấy là tên mẹ cơ).

Một người nói thì tôi không để ý lắm. Nhưng 7, 8 người chào hỏi cùng một câu và tất cả đều nhận ra tôi là con mẹ Bầu thì đó thực sự là niềm vui khôn tả, thậm chí thật xúc động.

Tôi không biết ai cả, nhưng họ đều biết tôi, nghĩa là mẹ đã để lại dấu ấn với người làng, và người làng cũng quan tâm dõi theo cả con cái của mẹ. Lòng tôi thổn thức, trào lên niềm xúc động, tôi nhớ ơn mẹ đã để lại phúc đức cho anh em chúng tôi.

Ông cậu bà mợ, rồi các em ở quê nói rằng, trước khi lễ hội Đình làng diễn ra, các cụ cao tuổi và dân làng vẫn hỏi: “Dịp này con cháu bà Bầu có về dự lễ hội Đình làng không? Nói với anh chị ngoài Hà Nội về dự đi nhé”.

Rồi cả đám thanh niên làng, khi thấy nói tôi là con bà Bầu thì các em cũng cười hỏi: “Chị /cô là con bà Bầu ạ ? em /cháu có nghe kể”… Thật quá vui và quá hạnh phúc.

Về quê tham dự lễ hội Đình làng mà tôi nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm về ông ngoại, về mẹ. Tôi rất thích lưu giữ kỷ niệm và luôn trân trọng kí ức. Vì đó là hiện diện của con người, là tâm hồn.

Tôi đứng nhìn rất lâu vào từng cột đá, từng mảnh tường, từng cánh cửa, từng nơi trong Đình làng và hình dung ông ngoại tôi trước đây cũng đứng nhìn như vậy. Tưởng tượng khi ông bị bắt trói vào cột rơm, ông nghĩ gì trong đầu…

Tôi nhìn những nơi trước đây mẹ về đặt lễ dâng, những vật phẩm mẹ cung tiến cho Đình làng (giờ thì đã được thay mới hết rồi), nhưng trong trí óc tôi vẫn nhớ về ngôi Đình cũ, vật phẩm cũ, hình bóng cũ…

Và tôi chắc sẽ không bao giờ phai nhạt những kỷ niệm, niềm tự hào về ông ngoại, về mẹ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *