TSKH Bạch Quốc Khang
1. Họ người xuất hiện khi nào
Họ người mà ta nói đến ở đây là họ phụ hệ, cha truyền con nối, không phải họ mẫu hệ, lấy theo họ của mẹ. Họ mẫu hệ có từ thời công xã thị tộc trong giai đoạn đầu của xã hội nguyên thủy, khi loài người sống bầy đàn theo các thị tộc, bộ lạc. Đó là thời kỳ người phụ nữ có vai trò sinh nở, cung cấp sữa, kiếm thức ăn và là trụ cột chính trong nhà. Vì thế hình thành thị tộc mẫu hệ do người phụ nữ nắm quyền. Họ mẫu hệ xuất hiện là để phân biệt các thành viên cùng huyết thống trong một nhà. Nó tồn tại hàng nghìn năm cùng chế độ thị tộc mẫu hệ và kéo dài sang giai đoạn đầu của thị tộc phụ hệ.
Còn họ phụ hệ bắt đầu manh nha ở giai đoạn sau, khi vai trò của người đàn ông lên ngôi. Đó là thời kỳ con người bắt đầu biết chăn nuôi, sản xuất, người đàn ông khoẻ hơn phụ nữ, làm được nhiều việc quan trọng, nên đã chuyển thành những thị tộc phụ quyền thay thế cho thị tộc mẫu quyền. Thị tộc phụ hệ tồn tại đến thời phong kiến. Quá trình manh nha họ phụ hệ được đề cập ở đây nhìn từ lịch sử Trung Quốc.

Các họ người ngày nay ở bất cứ nước nào trên thế giới đều không có sẵn từ thời Thượng Cổ. Chúng hình thành sớm muộn khác nhau và có nhiều biến chuyển trong lịch sử các dân tộc. Thời điểm xuất hiện họ người sớm muộn thế nào, xuất xứ từ những nguyên do nào tùy thuộc vào sự phát triển chế độ xã hội.
Có những họ người được biết đến như dòng họ sớm nhất, là họ đầu tiên, trụ cột của một bộ lạc, thường là ở những thị tộc, bộ lạc quan trọng, nắm quyền lãnh đạo trong bộ tộc [1]. Các họ phụ hệ này manh nha xuất hiện khi xã hội chuyển từ chế độ công xã thị tộc sang công xã nông thôn với chế độ phụ hệ đã hình thành.
Có nhiều họ xuất hiện muộn hơn, khi xã hội loài người đã chuyển sang chế độ phong kiến, thậm chí ở thế kỷ 20. Các họ không phải là dòng dõi tù trưởng, nhà vua, giới quý tộc, thì đa phần hình thành muộn trong lòng những cộng đồng tồn tại lâu mà chưa có họ.
Hiện nay có trào lưu các dòng họ đi tìm “Tổ” của mình, nghĩa là tìm nguồn gốc xuất hiện của dòng họ, hoặc cầu kỳ hơn, tìm người đầu tiên mang họ đó. Các cuộc tìm kiếm như vậy vô cùng gian nan và dễ bị lạc hướng. Bởi việc tìm kiếm này bị chi phối bởi quá nhiều yếu tố lịch sử quốc gia, dân tộc, chủng học, ngôn ngữ, cả sự “tam sao thất bản” của truyền thuyết, huyền tích, tính tư kiến của các luận thuyết, sự thất lạc của các văn bản…
Hơn nữa, khái niệm về họ người ở mỗi nước, mỗi thời kỳ cũng khác nhau, tùy thuộc vào vai trò, chức năng của họ người trong xã hội. Việc tìm kiếm nguồn gốc bất cứ một dòng họ nào vì thế cũng vô cùng phức tạp, nhất là những dòng họ có sự dịch chuyển từ nước này sang nước khác, có mặt ở nhiều dân tộc. Dòng họ càng lâu đời, lan tỏa càng rộng càng phải chịu nhiều biến động.
2. Ví dụ về quá trình hình thành họ người ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước có họ người xuất hiện sớm nhất. Nghiên cứu sự hình thành họ người ở quốc gia này cho ta biết nhiều điều thú vị. Chúng rất hữu ích cho định hướng đi tìm nguồn gốc các dòng họ ở Việt Nam.
Sự hình thành và phát triển các dòng họ ở Trung Quốc từ xa xưa đến nay có rất nhiều bí ẩn. Nhất là các đợt sóng Hán hóa, các cơn bão triều chính đã bóp méo, làm biến hình, biến chất không ít sự phát triển của nhiều tộc người, nhiều quốc gia trên lãnh thổ thuộc Trung Hoa ngày nay. Tên, họ người là thứ dễ bị thay đổi nhất trong các biến động lịch sử như thế.
Từ hàng trăm năm trước, nghiên cứu về họ đã trở thành một chuyên ngành ở Trung Quốc. Thực tế cho thấy, nghiên cứu về họ người không chỉ có mối liên hệ mật thiết với lịch sử, văn hóa, khảo cổ học, mà còn với các chuyên ngành ngôn ngữ, địa lý, hệ thống di cư cổ đại và điều tra dân số hiện đại [2].
Nhìn từ góc độ học thuật, có hai giả thuyết nguồn gốc ban đầu của họ người. Một là thuyết “totem” (vật tổ), và hai là thuyết “địa danh”. Trong đó, vật tổ là nguồn gốc đầu tiên của việc xuất hiện họ người, địa danh khu vực là thứ hai.
Với Vật tổ có thể phân biệt bộ lạc này với các bộ lạc khác trên cùng một lãnh thổ, khu vực. Dần dần từ vật tổ phát triển thành biểu tượng đại diện của cùng một tộc, một họ lớn. Ví dụ, vật tổ của họ (bộ tộc) Yu là con sâu, của họ (bộ tộc) Giang là cừu, của Phong là phượng hoàng, của Hồ là chim [3]. Còn họ Bạch gắn với gì, tôi xin dành câu trả lời trong một bài khác, nói về bản sắc văn hóa của họ Bạch Việt Nam.
Về thời gian, nguồn gốc của họ người có thể bắt nguồn từ thời kỳ cuối của chế độ thị tộc mẫu hệ trong xã hội nguyên thủy của loài người. Ở thời Trung Quốc cổ đại có truyền thuyết về “thời đại ngũ tộc”. Do khó khăn trong dịch thuật, nên với những họ Hán chưa tìm được nghĩa Hán Việt chuẩn, tôi phải diễn đạt theo bính âm.
Năm gia tộc cổ đại gồm: Thứ nhất, Youchao, dạy mọi người sống trên cây trốn tránh thú dữ và lũ lụt. Thứ hai, Suirenshi, dạy khoan gỗ để nhóm lửa. Thứ ba, Fuxi (Phục Hy) được coi là tổ tiên nền văn minh Trung Quốc (và cả Việt Nam), phát minh và tạo ra ký tự đếm, khởi đầu của các ký tự Trung Quốc cổ đại, kết thúc thời kỳ “thắt núi đánh dấu sự kiện”, dạy nấu đồ ăn bằng lửa… Thứ tư, Nữ Oa vá trời, “tạo ra” con người từ trái đất, kết hôn và sinh con. Thứ năm là Thần Nông dạy bốc thuốc, nếm các loại thảo mộc, trồng ngũ cốc, chăn nuôi gia cầm và gia súc (nghề nông).
Khi các công xã thị tộc cổ đại được thay thế bằng chế độ giai cấp dưới thời Hoàng đế [4]. Đó là thời kỳ liên minh các bộ tộc ra đời, xuất hiện nhà nước, các giai cấp xã hội được ra đời và cũng thay đổi phạm vi thống trị. Hoàng Đế là người đứng đầu bộ tộc Hoàng (còn gọi là Hùng thị). Sau khi đánh đổ triều đại Viêm Đế (Thần Nông) thứ 8 là Du Võng, ông sáp nhập bộ tộc Viêm vào bộ tộc Hoàng thành liên minh bộ tộc Viêm – Hoàng. Hoàng đế cai trị thế giới với “thổ địa là thị tộc”, tức là thổ địa được đặt theo tên thị tộc hoặc ngược lại, lấy tên thổ địa đặt cho thị tộc (ở Việt Nam là thời đầu các vua Hùng sẽ nói ở bài khác). Vì vậy một số lượng lớn thị tộc có tên gọi. Từ đó họ người bắt đầu có thay đổi, ngoài tính (họ mẫu hệ) bắt đầu xuất hiện thị (manh nha của họ phụ hệ).
Tính là họ người có từ thời mẫu hệ. Ở các thị tộc, bộ lạc nó là “Tộc tính”. Trong liên minh các bộ lạc, bộ tộc nó được các bộ lạc quyền quý sở hữu, được coi là “quốc tính”. Nói một cách khái quát, tính (姓) gồm bộ nữ (女) và bộ sinh (生), biểu đạt ý nghĩa “được mẹ sinh ra”, được truyền theo dòng nữ. Vì thế tính như là dòng giống chính của một cộng đồng thị tộc, bộ lạc truyền theo dòng máu của người mẹ, được thay cho tên gọi của thị tộc, bộ lạc.
Thị (氏) xuất hiện rõ nét vào thời nhà Chu, đánh dấu sự hình thành chế độ phụ hệ ở Trung Hoa. Triều Chu được coi là mở đầu cho xã hội phong kiến ở Trung Quốc. Từ thời nhà Hạ, quý tộc ngoài tính ra còn lấy quốc danh (tên nước), hoặc quan vị làm thị [5]. Thông thường quý tộc được phong đất đai sau đó mới lập thị.

Đến thời nhà Chu, sau khi lật đổ nhà Thương năm 1046 trước Công nguyên, Chu Vũ Vương chia đất cho anh em, con cháu nhà vua và các công thần khai quốc, vì thế mà sinh ra “chế độ phong kiến”, đặt tên theo chế độ “chia đất phong hầu”. Mỗi vùng đất được cấp trở thành lãnh địa cát cứ của một bộ tộc quý tộc mới, gắn với tên vùng đất.
Trong ba triều đại Hạ, Thương, Chu, nam tử xưng thị, nữ tử xưng tính. Thị dùng để phân biệt quý hay tiện. Quý tộc thì có danh hữu thị, bần dân thì có danh vô thị. Tính thì dùng để phân biệt hôn nhân (cấm người cùng tính có con với nhau).
Họ của Trung Quốc thay đổi nhiều nhất trong thời kỳ Tiền Tần (先秦). Tiền Tần nói ở đây không phải là một nước trong thời kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc vào cuối thời kỳ nhà Đông Tấn (265-420), mà nên hiểu là Tiên Tần thời đại, là thời đại trước nhà Tần của Trung Quốc, tức là trước năm 221 trước Công Nguyên, trước khi Tần Thủy Hoàng đốt sách, hoặc nói gọn hơn là thời Xuân Thu – Chiến Quốc.
Thời Xuân Thu – Chiến Quốc, hệ thống tông pháp (mẫu hệ) tan rã, hệ thống họ cũng theo đó mà thay đổi. Lúc này thị bắt đầu chuyển thành họ phụ hệ như ngày nay. Sau Chiến Quốc, dân thường vẫn chỉ có tính. Lúc này “bách tính”, “bá tính” (trăm họ) trở thành thành ngữ gọi chung dân chúng.
Sau đó, ở thời nhà Hán các họ trong xã hội dần trở nên cố định hơn. Tính và thị hợp nhất, được gọi chung là “họ”, hợp cùng với tên, tạo thành tên, họ của một người.
Nói ngắn gọn, “tính” và “thị” là hai dạng họ có đặc trưng khác hẳn nhau [6]( ). Đầu tiên có “tính”, sau đó có “thị”. “Tính” bắt đầu từ hệ nữ (mẫu hệ), “thị” bắt đầu từ hệ nam (phụ hệ). Nếu không phân biệt rõ, ta sẽ bị nhầm lẫn khi lần theo các tài liệu cổ để tìm về cội nguồn xuất xứ và thời điểm xuất hiện một họ nào đó.
3. Các xuất xứ của họ người ở Trung Quốc
Theo các học giả Trung Quốc, thời Thượng Cổ có tám họ lớn, gọi là Thượng cổ bát đại tính, gồm Khương (姜), Cơ (姬), Diêu (姚), Quy (媯), Doanh (嬴), Tự (姒), Vân (妘) và Nhậm (妊) [7].
Trong đó, Khương là tính của dòng dõi Viêm Đế (vua Thần Nông); Cơ (còn gọi là Hoàng) là của dòng dõi Hoàng Đế; Diêu của dòng dõi Ngu Thuấn; Doanh của dòng dõi Thiếu Hạo; Tự của dòng dõi Hạ Vũ; Vân của dòng dõi Chuyên Húc; Quy của dòng dõi Ngu Thuấn, và Nhậm của dòng dõi Phục Hy. Tên các vị vua này có thể tìm hiểu trong các sử liệu về Trung Quốc.
Trong các tính này, chỉ còn Khương và Diêu là còn tồn tại từ thuở mới hình thành. Đặc biệt, các tính liên quan đến dòng dõi Viêm Đế, Hoàng Đế, Chuyên Húc, và tính Mị được các chuyên gia coi là xuất xứ của họ Bạch người Hán sau này.
Hiểu biết về “tính” cho ta ngộ ra hai điều. Thứ nhất, dù một dòng dõi có từ cụ Tổ nào đó rất lâu đời, được nhận biết theo tính, nhưng chỉ đến khi có con cháu lấy theo họ phụ hệ, thì lúc đó mới coi là thời điểm xuất hiện của dòng họ đó, trừ khi tính được dùng tiếp để làm họ phụ hệ.
Thứ hai, chỉ có những “tính” cho đến nay vẫn được dùng làm họ phụ hệ, như tính Khương thời cổ đại trở thành họ Khương bây giờ, thì thời điểm xuất hiện “tính Khương” ngày xưa được coi là thời điểm xuất hiện của dòng họ Khương ngày nay.
Theo Giang Kháng Hồ [8], họ của người Trung Hoa nói chung khởi phát từ 18 nguồn. Một số học giả khác cho rằng con số này là 24 [9]( ). Xuất xứ của nhiều họ gắn liền với triều đại đương quyền, hoặc gắn với địa danh lãnh thổ, làng mạc, đô thị, kinh kỳ. Có họ là tước hiệu quan lại hoặc nghề nghiệp, hoặc sự vật nào đó, hoặc được khởi phát từ tên của một thành viên trong gia đình hoặc thị tộc [10]…

Có mười nhóm xuất xứ hình thành nên họ người ở Trung Quốc, mà tôi thấy cũng tương tự ở Việt Nam là:
1) Xuất phát từ “tính”: Các tính này được dùng để chỉ dòng chính của hoàng tộc, với các dòng bàng hệ, mà mỗi dòng sở hữu một thị khác nhau.
2) Xuất phát từ chiếu chỉ của Hoàng đế: Tức vua ban cho họ.
3) Xuất phát từ tên nước: Nhiều quý tộc lẫn bình dân chọn tên nước làm họ, vừa biểu thị lòng trung thành, vừa thể hiện tinh thần quốc gia dân tộc. Một số họ dạng này là những họ phổ biến nhất của người Hoa như: Triệu, Ngụy, Tào, Chu, Tần, Hàn, Ngô…
4) Xuất phát từ tên thái ấp hoặc quê quán nguồn cội: Thái ấp thường được ban cho bàng hệ của giai cấp quý tộc và nó hiển nhiên trở thành một họ lót.
Lấy ví dụ là Minh Di, tức Âu Dương Đình Hầu (歐陽亭侯), mà các hậu duệ của ông đã lấy họ Âu Dương.
Một ví dụ khác là họ Đỗ, họ Phạm. Theo Nguyên Hà Tính Toản và Lộ Sử [11], Lưu Luy thuộc dòng Đường Đế Nghiêu. Lưu Luy lập ra nước Đường (nay ở Sơn Tây) và người ta thường gọi là Đường Đỗ Thị. Thời nhà Chu, Chu Thành Vương chiếm nước Đường. Một người cháu Lưu Luy được cấp đất Đỗ Thành ở Tây An, tỉnh Thiểm Tây và được phong tước Đỗ Bá. Do vậy, con cháu nhận Đỗ làm họ. Đất Đỗ Thành lại bị Chu Tuyên Vương chiếm và con của Đỗ Bá là Đỗ Thấp Thúc chạy sang nước Tấn, được phong chức Sĩ Sư nên đổi họ Đỗ thành họ Sĩ. Đến đời chắt của ông này là Sĩ Hội được ban cho đất Phạm, gọi là Phạm Ấp để cai trị, nên đã đổi họ Sĩ ra họ Phạm. Dòng họ Phạm phát triển mạnh tại tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc).
Khoảng 200 họ dạng này đã được nhận dạng, thường là họ kép, nhưng chỉ còn vài họ còn tồn tại đến ngày nay.
5) Xuất phát từ tên tổ tiên: Họ người có nguồn gốc tên tổ tiên có thể liệt kê ra 500 – 600 trường hợp, với khoảng 200 là các họ có hai chữ. Thường tên chữ của tổ tiên sẽ được sử dụng là họ. Ví dụ, họ Viên trong Viên Đào Đồ (轅濤塗) là do lấy chữ thứ hai trong tên chữ của người ông là Bá Viên (伯爰) làm họ. Một vài tước hiệu được ban cho tiền nhân cũng được nhiều lớp hậu bối lấy làm họ.
6) Xuất phát từ thứ bậc gia đình: Thời xưa, thứ bậc con trai trong gia đình người Hoa theo thứ tự từ lớn tới nhỏ gọi là Mạnh (孟) hoặc Bá (伯), rồi đến Trọng (仲), Thúc (叔) và Quý (季). Nhiều người lấy các chữ này làm họ. Trong số đó, họ Mạnh được biết tới nhiều nhất, là họ của nhà hiền triết Mạnh Tử.
7) Xuất phát từ nghề nghiệp: Nhiều họ xuất phát từ nghề nghiệp, chức vụ như: họ Sử (史), từ nghề “sử gia”; Tịch (籍) từ nghề “quan coi thư tịch”; Lăng (凌) từ nghề “quan coi phòng băng”; Thương (倉) từ nghề “người quản lý kho thóc”; Khố (庫) từ nghề “người quản lý kho”; Gián (諫) từ chức “quan có phận sự can gián nhà vua”; Trung Hàng (中行) từ chức “chỉ huy quân trung vệ”; Tư Mã (司馬) từ chức “quan coi ngựa”, giống như bộ trưởng quốc phòng; Tư Đồ (司徒) từ chức “quan tư đồ”; Tư Không (司空) từ chức “quan tư không” v.v..
8) Xuất phát từ tước hiệu quý tộc: Như Vương (王), Hầu (侯), Hạ Hầu (夏侯) và Công Tôn (公孫, là “cháu người mang tước Công”).
9) Xuất phát từ thành phần sắc tộc và tôn giáo: Các dân tộc thiểu số tại Trung Quốc đôi khi lấy tên của dân tộc mình, Hán hóa nó, rồi chọn tên ấy làm họ, như họ Hồ (胡) của người “rợ Hồ”; họ Kim (金) của “người Nữ Chân”); họ Mãn (滿) của “người Mãn”; họ Địch (狄) của “người Địch”; họ Hồi (回) của “người Hồi”; và họ Mộ Dung (慕容) của người Tiên Ti v.v..
Thời kỳ Nhà Minh, nhiều người Hồi theo Hồi giáo khi bắt buộc phải dùng họ Hán đã lấy họ Mã (馬), một họ lâu đời của người Hán, bởi âm của nó gần giống với âm tiết đầu tiên trong tên của nhà tiên tri Mohammad. Hơn nữa, họ này cũng làm cho những người dẫn đầu đoàn lữ hành lạc đà cảm thấy thích hợp vì nghĩa đen của nó là “ngựa” [12].
10) Do cải họ: Nhiều người đã cải họ vì nguyên nhân khác nhau. Giai cấp thống trị thường ban họ của mình cho sủng thần. Ví dụ, các hoàng đế nhà Hán thường ban họ Lưu (劉), nhà Đường thì ban họ Lý (李), nhà Tống ban họ Triệu (趙) v.v..
Tuy nhiên, số khác thì lại tránh dùng họ giống với tên người cai trị, ví dụ họ Sư (師) phải đổi qua họ Soái (帥) để kiêng húy tên của Tư Mã Sư.
Số khác có thể đã đổi họ để thoát khỏi sự truy bắt trong thời loạn lạc, như nhiều người họ Đoan Mộc (端木) đã phải đổi thành Mộc (木 hoặc 沐), họ Cung (共) bị đổi thành Cung (龔). Họ người Hoa cũng có thể bị đổi bởi việc giản lược hóa chữ viết.
Cũng có trường hợp thay đổi do nhầm lẫn, hoặc do không hài lòng với nghĩa của họ. Ví dụ họ Ai (哀) với nghĩa “bi ai, sầu thảm” đã chuyển thành Trung (衷) với nghĩa “trung thực” [13].
Ngoài ra còn có những nguyên do khác làm phát sinh ra họ của người Hán và người các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc.

Với các dân tộc thiểu số, xuất xứ hình thành họ người phức tạp hơn do chịu tác động của hàng nghìn năm Hán hóa. Họ phải cải họ theo họ người Hán để khai sổ bộ, tiện cho cai trị, giao tiếp, liên hệ trong xã hội. Khi cải họ, người dân tộc thiểu số thường căn cứ theo:
– Sự đồng âm giữa họ cũ của mình với họ Hán. Ví dụ người dân tộc Mãn họ Bayala (Bayara) đã cải sang họ Bạch vì có phát âm chữ đầu giống bính âm “Bai” của họ Bạch;.
– Sự đồng nghĩa của họ cũ với họ Hán. Ví dụ, người Mông Cổ họ Chagan. “Chagan” tiếng Mông Cổ có nghĩa là “trắng”, như “Bạch” trong tiếng Trung, và “Bạch” đã được lấy làm họ mới do đồng nghĩa.
– Vẻ bên ngoài của chủng tộc: Ví dụ một số người nước ngoài lấy họ Bạch theo màu da trắng của mình khi hòa nhập vào xã hội Trung Quốc.
– Lấy theo tên người có ảnh hưởng: Ví dụ trẻ em người Kỷ Nặc thường nhờ các pháp sư đặt tên cho chúng và thường được họ theo đặt tên của chính pháp sư. Nếu pháp sư tên là “Bạch La”, con trai sẽ là “Bạch La Diệu”, con gái sẽ là “Bạch La Lữ”. Tương tự, nhiều người Jinuo đã lấy âm đầu của tên Pháp sư (Bạch) làm họ v.v..
Trích từ cuốn “Họ Bạch Việt Nam – Hành trình đi tìm tổ” của Bạch Quốc Khang
Chú thích
[1] Bộ tộc là một community hình thành từ sự liên minh của nhiều bộ lạc trên cùng một lãnh thổ, vị trí địa lý và họ thường có mối quan hệ huyết thống với nhau. Bộ tộc sẽ đông hơn và bao quát các bộ lạc thành một tập thể thống nhất. Họ sẽ bầu ra một người đứng đầu, có quyền quyết định mọi việc được gọi là tộc trưởng
[2] Chen Tingwei: 姓氏考略 (Nghiên cứu về họ). Lu’an Chaoshi, 1831. Là cuốn sách cổ về họ người xuất bản từ thời nhà Thanh [74]
[3] Chen Tingwei: Tài liệu đã dẫn [74]
[4] Hoàng đế ở đây viết hoa, là tên gọi của người đứng đầu liên minh các bộ tộc thời kỳ Ngũ Đế cách đây khoảng 4700 năm (2699 – 2184 trước Công nguyên) kế sau thời Tam Hoàng trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, còn gọi là thời Ngũ Hoàng. Chứ không phải ngôi hoàng đế có ở thời Tần Thủy Hoàng sau này
[5] Wee Kek Koon: The complex origins of Chinese names demystified. South China Morning Post. South China Morning Post. Ngày 18/11/2016. Truy cập ngày 20/5/2017. [55]
[6] Cook, Steven: China’s Identity Crisis: Many People, Few Names (Khủng hoảng danh tính tại Trung Quốc: nhiều người, ít tên). Christian Science Monitor, 3/6/1997. [55]
[7] Cook, Steven: Tài liệu đã dẫn
[8] Kiang Kang-Hu ((江亢虎)): On Chinese Studies (1934) tr. 127–8 [55]
[9] Sheau-yueh J. Chao: In Search of Your Asian Roots: Genealogical Research on Chinese Surnames. Clearfield. 2009. tr. 4–7. ISBN 978-0806349466. [55]
[10] Russell Jones: Chinese names. Pelanduk Publications. 1997 tr. 1–3. ISBN 978-9679786194 [55]
[11] Dẫn trong: Nguồn gốc tên họ Việt Nam, do Nguyễn Long Thao giới thiệu trên VietCatholic News, ngày 22/12/2004 [[S1]
[12] Leif Manger: Muslim Diversity: Local Islam in Global Contexts. Routledge. tr. 132. ISBN 9781136818578 [55]
[13] Sheau-yueh J. Chao: In Search of Your Asian Roots: Genealogical Research on Chinese Surnames. Clearfield. 2009. tr. 8–9. ISBN 978-0806349466 [55]




