CÒN NHIỀU ĐIỀU THÚ VỊ CHƯA BIẾT VỀ BẠCH LIÊU

Bạch Quốc Khang

Từ những câu chuyện, phả ký của các gia tộc, tôi đã giới thiệu khái quát, cô đọng về thân thế, sự nghiệp của Trạng nguyên Bạch Liêu trong cuốn sách “Họ Bạch Việt Nam – Hành trình đi tìm tổ”. Cùng với đó, nhờ có thêm các tư liệu lịch sử, dư địa chí, các bài nghiên cứu về khoa bảng nước ta,… tôi đã thấy được nhiều điều thú vị.

Nhân dịp UBND huyện Hưng nguyên cùng Hội đồng gia tộc Họ Bạch Hưng Nguyên tổ chức Lễ kỷ niệm 710 năm ngày Giỗ Trại Trạng nguyện Bạch Liêu, tôi trích từ cuốn sách một số thông tin để kể với các bạn. Ai muốn biết rõ hơn xin hãy tìm đọc Chương 17 của cuốn sách, trang 533- 570.

Cụ Bạch Liêu sinh ngày 15 tháng Giêng năm Bình Thìn (1236), mất tháng Giêng năm Ất Mão (1315), thọ 79 tuổi. Tương truyền, lúc mới sinh ra, Bạch Liêu rất khôi ngô, dĩnh ngộ khác thường. Từ nhỏ, cụ đã được cha rất mực quan tâm dạy dỗ. Lên sáu tuổi đã biết đọc, bảy tuổi đã biết làm thơ, làm văn. Lúc 15 tuổi văn chương của Bạch Liêu đã giỏi, điểm sách đã thông và nổi tiếng là thần đồng.

Thời đi học, Bạch Liêu thường quan sát và tranh cãi với bạn bè về các hiện tượng thiên nhiên, hệ thống pháp luật. Có lần cụ trả lời thầy rằng: “Nếu có một hệ thống pháp luật tốt, thì mọi thời đại đều không cần nhiều quan cai trị”. Trong những năm đi học, Bạch Liêu quen thân với Đại Minh, một học trò giỏi, là con quan tuần phủ. Nhờ Đại Minh mà Bạch Liêu có cơ hội đọc nhiều sách trong kho quan tuần phủ, kiến thức nhờ đó ngày càng mở rộng và uyên bác.

Trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: “Năm Thiệu Long thứ 9 đời Trần Thánh Tông (1266), tháng ba khoa thi lấy Kinh Trạng nguyên Trần Cố, Trại Trạng nguyên Bạch Liêu. Bạch Liêu là người Nghệ An, thông minh, nhớ lâu, đọc sách 10 dòng một nháy mắt”.

“Đọc sách 10 dòng một nháy mắt” là đặc biệt xuất sắc. Vì đọc sách chữ Hán rất khó nhớ mặt chữ, lại không thể hiểu nhanh các nghĩa lý thâm thúy, hàm súc của nó. Khối lượng sách cần đọc để đi thi Hội rất lớn. Bạch Liêu nhờ tài năng này mà đáp ứng được yêu cầu của trường quy, qua cả bốn kỳ thi trường nhất, trường nhì, trường tam, trường tứ đều đỗ đầu xuất sắc, được người đương thời ca ngợi xuất chúng hơn cả Kinh Trạng nguyên Trần Cố. Cụ được suy tôn là Tổ khai khoa xứ Nghệ.

Sau khi vinh quy bái tổ, Bạch Liêu không mong vua trao cho chức vụ. Ông đã khước từ rất chân thực: “Xin bệ hạ rủ lòng thương cho thần được ở lại quê báo hiếu song thân, thần xin đem tài lược lo giúp việc công ngay trong bản xứ”.

Vua Trần Thánh Tông chấp nhận ý nguyện của Bạch Liêu. Vì thế, cụ không ra làm quan trong triều, về quê sống, làm môn khách, quân sư cho Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, vạch kế sách “Biến pháp tam chương”, giúp nhà Trần đánh thắng quân Nguyên.

Sau khi chiến tranh kết thúc, được triều đình mời ra làm quan giúp nước, nhưng Bạch Liêu vẫn xin ở lại Nghệ An. Sau đó, cụ ra sống với bà con làng Nghĩa Lư, huyện Thanh Lâm, nay là An Lâm, tỉnh Hải Dương. Ở đây, cụ dựng cư xá, mở trường dạy học, làm nghề cắt thuốc chữa bệnh cứu người, phổ biến những kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp. Học trò của cụ nhiều người hiển đạt, thi đỗ đến tam khôi.

Mùa xuân năm Ất Mão (1315), Bạch Liêu lâm bệnh nặng. Cụ mất vào ngày 24 tháng Giêng, tại làng Nguyên Xá, huyện Đông Thành (Yên Thành), thọ 79 tuổi. Người dân địa phương đã lập đền thờ. Ngoài Nguyên Xá, cụ còn được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng và tôn là phúc thần. Cụ được các vua triều Nguyễn ban bảy sắc phong thần từ năm 1741 đến 1924, phong là Thượng Đẳng Thần; Quang Úy Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần; Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Thần vị; Trung thần Tướng Công, Quang Úy Dực Bảo Trung Hưng Thượng Thượng Đẳng Thần vị; Trác vị Thượng Đẳng Thần; Dực Bảo Trung Hưng Bản cảnh Thành hoàng, Thái Sơn Hầu Tôn Thần.

1. Vì sao lại gọi là Trại Trạng nguyên?

Trại Trạng nguyên” là danh hiệu đặc biệt, không phổ biến trong lịch sử khoa bảng nước ta. Các khoa thi tuyển chọn nhân tài nước ta bắt đầu từ năm 1075 đời vua Lý Nhân Tông, kết thúc vào năm 1915 đời vua Khải Định triều Nguyễn. Nhưng chỉ ở các kỳ thi từ năm 1246 đến năm 1787 người đứng đầu được gọi là “Trạng Nguyên”. Riêng trong hai kỳ thi triều Trần năm 1256 và năm 1266 mỗi kỳ lấy hai Trạng nguyên, là “Kinh Trạng nguyên” cho khu vực từ Ninh Bình trở ra Bắc và “Trại Trạng nguyên” cho khu vực từ Thanh Hóa trở vào. Cụ Bạch Liêu quê ở Mã Thành, Yên Thành, Nghệ An, nên là Trại Trạng nguyên.

Vì sao lại tách ra như vậy? Tách ra để làm gì?

Nhà sử học Ngô Thì Sĩ cho rằng, việc chia Kinh và Trại trong thi cử của nhà Trần giống như nhà Thanh chia ra Hán và Mãn. Tuy nhiên, không hẳn là do sự khác biệt giữa các dân tộc khác nhau. Từ thời Trần, nước ta chia tứ trấn làm Kinh, Thanh – Nghệ trở vào làm Trại. Người Việt ở vùng kinh thành hoặc đồng bằng quanh kinh thành, ven biển thì gọi là người Kinh. Còn “trại” tiếng Hán là trang trại, biên giới, biên cương, chỉ người Việt sinh sống tại những vùng miền cao, biên cương xa kinh thành. Giữa họ có sự khác biệt về phong tục, văn hóa, lễ nghi, ngôn ngữ…

Nhưng tách hai trạng nguyên để làm gì? Phải chăng là để phù hợp với sự khác biệt ở hai vùng Kinh, Trại và Trại Trang nguyên không “oai” bằng Kinh Trạng nguyên?

Nước ta chỉ có cả thảy hai Trại Trạng nguyên là Trại Trạng nguyên Trương Xán ở kỳ thi năm 1256 và Trại Trạng nguyên Bạch Liêu ở kỳ thi năm 1266. Thực ra Trương Xán là người huyện Tế Giang, lộ Bắc Giang [Đại Việt sử ký toàn thư], nhưng cụ đã chuyển vào sinh sống ở xã Hoành Bồ, huyện Quảng Trạch, châu Bố Chính (nay là Quảng Trạch – Quảng Bình). Còn với Trại Trạng nguyên Bạch Liêu, mặc dù trong hồ sơ ghi quê Nguyễn Xá (sau đổi là làng Thanh Đà), huyện Đông Thành, nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, nhưng nơi sinh thì có nhiều ý kiến khác nhau.

Cả hai Trại Trạng nguyên tuy sống ở vùng Trại, nhưng đều là người thông minh, tài giỏi xuất chúng. Thậm chí cụ Bạch Liêu được người đương thời đánh giá xuất xắc hơn Kinh Trạng nguyên Trần Cố. Vì thế theo tôi, lý do ưu ái cho vùng Trại là không xác đáng.

Cũng có thể để tiện bố trí quan chức ở hai vùng? Trong thực tế, Trại trạng nguyên Trương Xán làm quan Hàn lâm học sĩ. Đây là chức vụ làm việc cho Hàn Lâm viện – cơ quan học thuật rất được trọng vọng trong quan chế triều đình ngày xưa. Còn Bạch Liêu thì không ra làm quan như đã kể ở trên. Như vậy. mục đích bố trí trại trạng nguyên làm quan ở vùng Trại với cả hai cụ đều không đạt được.

Phải chăng lý do, mục đích tách Kinh và Trại trạng nguyên không thuyết phục lắm, nên các danh hiệu này chỉ tồn tại trong hai kỳ thi năm 1256 và 1266 mà thôi.

2. Bạch Liêu sinh ra ở đâu?

Trong một số bài viết, gia đình cụ Bạch Liêu là người dân tộc Bạch, di cư từ nước Đại Lý (nay thuộc Vân Nam Trung Quốc) về Việt Nam. Có người còn suy diễn đến nguồn gốc Tây Tạng, Nguyên Mưu của cụ Bạch Ngọc Trác. Tôi đã nêu rõ sự thiếu thuyết phục của các giả thuyết này trong cuốn sách của mình.

Ngược lại, đa số ý kiến cho rằng cụ Bạch Liêu sinh ra ở Mã Thành, Yên Thành. Nhưng cũng có những tài liệu nói cụ sinh ở Nghĩa Lư, Thanh Liêm, Hải Dương. Trong sách Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919) khi nói về Bạch Liêu đã dẫn từ Trần Lê ngoại truyện: “Cha ông thời trẻ nhà nghèo, ra tận huyện Thanh Lâm làm nghề gõ đầu trẻ, nhân lấy vợ rồi nhập tịch tại đây. Sau theo học huấn đạo họ Nguyễn người làng Đồng Khê. Năm 40 tuổi mới sinh ra ông, nên đặt tên là Liêu (xa)” (xem ảnh kèm theo).

Trong sách Từ điển địa danh lịch sử, văn hóa, du lịch Việt Nam của Nguyễn Văn Tân có mục về xã Nghĩa Lư, viết rằng: “Làng ở huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, nơi sinh của Phạm Tử Hư, là người có đức hạnh vào cuối đời Lý và của trạng nguyên Bạch Liêu”.

Như vậy, rất có thể Bạch Liêu sỉnh ở Nghĩa Lư, Hải Dương, sau đó theo cha trở về quê là Mã Thành, Yên Thành. Sau khi giúp nhà Trần đánh thắng quân Nguyên, cụ ra Nghĩa Lư sống cho đến già. Có thể là cụ muốn dành những năm tháng đó cho quê ngoại.

3. Họ Bạch ở Nghệ An có từ bao giờ, ở đâu?

Nhiều gia tộc họ Bạch ở các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ đều nhận mình có gốc gác từ Nghệ An. Điều đó chứng tỏ Nghệ An là một trung tâm lớn của họ Bạch.

Các dữ liệu lịch sử cho biết họ Bạch ở Nghệ An có từ rất sớm, trước khi gia đình cụ Bạch Liêu xuất hiện ở Mã Thành, Yên Thành nhiều thế kỷ. Thời Đinh có hai tướng Bạch Địa, Bạch Tượng là hai anh em, con của tộc trưởng Bạch Lân ở Hoan Diễn, đã theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân những năm 965-968. Trong danh sách các danh nhân thời Đinh, hai tướng này được coi là những thổ hào ở địa phương, thực chất từng là những sứ quân.
Nghĩa là ở thế kỷ thứ 10 đã có một gia tộc họ Bạch mạnh mẽ, danh tiếng ở Nghệ An. Để có gia tộc như vậy ở thế kỷ 10 chắc hẳn họ Bạch đã sống ở đó nhiều đời.

Gia tộc cụ Bạch Lân ở đâu trên đất Hoan Diễn, phải chăng chính là Yên Thành? Ngày nay, khi nghiên cứu về dấu vết họ Bạch ở Nghệ An, các gia tộc trong tỉnh đều cho rằng họ có xuất xứ từ Yên Thành. Ông Bạch Văn Thống ở Yên Thành, người hơn 40 năm đi tìm nguồn cội, vẫn chưa phát hiện được địa danh nào trên đất Nghệ An là nơi xuất hiện họ Bạch trước Yên Thành. Ở Yên Thành từng có thời kỳ họ Bạch rất đông, trước khi xảy ra nạn truy quét người họ Bạch Yên Thành thời vua Gia Long, xã Mã Thành có tới ba nhà thờ họ Bạch.

Phải chăng họ Bạch Nghệ An xuất hiện từ rất sớm, từ trước thế kỷ thứ 10 ở Yên Thành, và sự có mặt của họ Bạch ở đó khiến Mã Thành – một vùng đất địa linh nhân kiệt trở nên có chủ, các dòng họ danh tiếng khác trong vùng không còn cơ hội chọn nơi đó làm nơi an cư lạc nghiệp lâu dài?

4. Một số câu hỏi khác

Chúng ta còn có nhiều câu hỏi khác. Phải chăng họ Bạch có ở Nghệ An từ thời Văn Lang của các vua Hùng? Trong lịch sử còn lưu lại dấu vết những làn sóng dịch chuyển của người Lạc Việt từ Bắc vào Nam và ngược lại. Họ Bạch là dòng họ quan lang từ thời người Việt cổ, nay là người Mường. Phải chăng họ Bạch đã có ở Nghệ An từ thời đó? Một số làng xã ở Nghệ An đến giờ còn thờ những vị thần họ Bạch thời vua Hùng.

Phải chăng họ Bạch có ở Nghệ An còn do Lý Thường Kiệt đưa người họ Bạch bị bắt làm tù bình từ Bạch Châu, Quảng Tây vào khai hoang vùng Hoan Diễn năm 1076, sau khi ông đưa quân đánh chiếm ba châu Ung, Khâm, Liêm để phá kế hoạch xâm lược nước ta của nhà Tống?…

Chuyện về Trại Trạng nguyên Bạch Liêu và họ Bạch Nghệ An còn dài, nhưng xin tạm dừng ở đây. Mời các bạn tiếp tục hành trình thú vị trong cuốn sách “Họ Bạch Việt Nam – hành trình đi tìm tổ”.

(Nhân Kỷ niệm 710 năm ngày giỗ Trạng nguyên Bạch Liêu ở làng Phú Điền, xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 24/1/1315 – 24/1/2029)

Chú thích về Bạch Liêu trong sách Các nhà khoa bảng Việt Nam
Nhà thờ Bạch Liêu ở Yên Thành
Đền thờ Bạch Liêu ở Yên Thành

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *