TSKH. Bạch Quốc Khang
1. Bản chất đa nguồn gốc, đa dân tộc của các dòng họ
Đa số các dòng họ nói chung, họ Bạch Việt Nam nói riêng, thường là đa nguồn gốc, đa dân tộc. Qua hàng nghìn năm phát triển, các cộng đồng người từ khi chưa có họ đã từng bước lập họ, cải họ. Từ số ít họ cổ thuở ban đầu, đến nay đã có hơn một nghìn họ[1]. Hiện tượng nhiều dân tộc, nhiều nhóm người nhận chung một họ là khá phổ biến, dẫn đến những người có chung một họ lại không có chung một cụ Tổ. Lại có nhiều chi nhánh, nhiều dân tộc phải cải họ vì lý do khác nhau, dẫn đến các nhóm này tuy có chung huyết thống như lại khác họ. Điều đó quy định bản chất đa nguồn gốc, đa dân tộc của hầu hết các dòng họ không chỉ ở nước ta, mà nhiều nước trên thế giới.
Ở Trung Quốc, họ Bạch không chỉ là họ của người Hán, mà nhiều dân tộc khác cũng có họ Bạch, như người Mãn Châu, người Mông, người Thổ Nhĩ Kỳ, Thổ Dục Hồn, Do Thái, người Di, Hà Nhì, Kỷ Nặc… Trong các dân tộc này lại có nhiều gia tộc khác nhau đã cải theo họ Bạch của người Hán do tác động của quá trình Hán hóa.
Ngay trong cái gọi là dân tộc Hán, họ Bạch cũng có rất nhiều xuất xứ, nhiều huyết thống. Người Hán từ lâu đã không còn thuẩn chủng sau ba thời kỳ Hán hóa. Hán không phải là một dân tộc, mà là hệ thống các dân tộc, gọi tắt là “dân hệ” và chỉ ở Trung Quốc mới có khái niệm này.
Ở Việt Nam, họ Bạch hiện diện từ nhiều xuất xứ [2]. Tựu trung lại có hai dòng chảy lớn: họ Bạch bản địa của người Việt cổ và họ Bạch di cư từ Trung Quốc về. Họ Bạch từ Trung Quốc về cũng không chỉ có người Hán, mà còn có cả họ Bạch người Lạc Việt – cư dân bản địa ở khu vực Bách Việt ngày xưa[2], không loại trừ còn có họ Bạch của một số dân tộc thiểu số sống ở khu vực phía Nam Trung Quốc.
Ngày nay, không chỉ người Kinh, người Mường, mà các dân tộc Dao, Chăm, Hoa ở nước ta cũng có họ Bạch. Họ Bạch ở Việt Nam là họ ít người. Về mức độ phổ biến của họ Bạch ở Việt Nam có nhiều đánh giá khác nhau. Một phái cho là thuộc nhóm 180 họ hiếm, thậm chí trong nhóm 100 họ cực hiếm. Phái khác thì coi họ Bạch thuộc nhóm 100 họ phổ biến. Chưa có công trình nghiên cứu nào đủ tin cậy nói rõ dân số họ Bạch Việt Nam là bao nhiêu, đứng thứ bậc nào trong danh sách các dòng họ ở nước ta.
Tuy ít người, nhưng họ Bạch là một trong những họ cổ của cả Việt Nam và Trung Quốc. Có thể nói Trung Quốc và Việt Nam là quê hương của họ Bạch trên thế giới. Dù đa nguồn gốc, đa dân tộc, người họ Bạch từ xưa vẫn coi mình là con cháu một nhà, cả Việt Nam chỉ có một họ Bạch. Truyền thống đoàn kết của họ Bạch nhờ đó đã sớm hình thành.
2. Các cụ Tổ của họ Bạch ở Trung Quốc
a) Cụ Tổ Bạch Phụ năm nghìn năm trước
Ở Trung Quốc, họ Bạch khởi nguồn từ thời Thượng Cổ, gắn với nhân vật huyền thoại có công kết nối các nguồn nước. Đó là tộc trưởng của vua Thần Nông, có tên là Bạch Phụ, sống cách đây khoảng 5.000 năm. Bạch Phụ được coi là Cụ Tổ đầu tiên của họ Bạch Trung Quốc. Ngày nay, ở các khu vực Bảo Kê và Phượng Tường tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc còn có các di tích văn hóa, lịch sử và truyền thuyết về Bạch Phụ[3].
Thời đó con người chưa có họ, sống trong các công xã thị tộc, theo chế độ mẫu hệ, mang “tính”, tức là họ của mẹ. “Tính” gồm hai chữ “Nữ” và “Sinh” ghép lại, ngụ ý do người đàn bà sinh ra.
Tính cũng là tên của bộ tộc, vì thế được gọi là tộc tính, dùng để phân biệt người của bộ tộc này với bộ tộc khác, quyết định quan hệ hôn nhân: không được phép lấy người cùng “tính”, tức cùng dòng máu của mẹ.
Bởi thế, chữ “Bạch” trong “Bạch Phụ” lần đầu tiên xuất hiện không phải là họ phụ hệ như ta hiểu bây giờ, mà là tên tự, tên văn hoa. Đó là tên được người đàn ông thuộc tầng lớp quý tộc dùng để phân biệt mình với những người đàn ông khác có cùng tính trong bộ lạc. Bản thân Bạch Phụ là tộc trưởng bộ tộc Giang, tức mang tính Giang.
Cách lấy “tên tự” như vậy dần dần phổ biến, trở thành “thị” tạo thành họ kép Tính + Thị dùng cho đàn ông quý tộc. Con cháu của Bạch Phụ có người dùng tên tự của ông làm “thị”, từ đó hình thành họ Bạch lưu truyền đến đời sau.
Có nhiều cách lấy thị khác nhau. Người trong hoàng tộc có thể lấy tên vương quốc. Gia tộc lãnh chúa có thể lấy tên đất. Quan chức, viên chức thì lấy chức danh, tên công việc, nghề nghiệp… Bạch Phụ chọn chữ “Bạch” là do vẻ ngoài và công việc của ông. Ông da trắng, tóc trắng, lông mày trắng, mệnh thủy. Cuộc đời và công việc của ông gắn với thủy nông, với nguồn nước… Bởi thế, theo các nhà danh tính học Trung Quốc, tên “Bạch” thoạt đầu có nghĩa là “trắng”, gắn với “nước”. “Mạch nước là khởi nguyên của họ Bạch”[4].
Theo các tư liệu khảo cổ và chủng tộc học[5][6], quê hương của Bạch Phụ thuộc lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, nơi có nền văn minh “Lưỡng Hà” của hai dòng sông lớn nhất Trung Quốc[3]. Đó là khu vực của cư dân cổ đại canh tác trên ruộng nước, những người có “gen nước, đi thuyền”, khác với tổ tiên của người Hoa Hạ sống bằng du mục trên lưng ngựa ở phương bắc. Câu “Ngựa phương Bắc, thuyền phương Nam” là có ý đó. Có thể nói Bạch Phụ sinh ra trên vùng đất từng có người Việt cổ từ Đông Nam Á di cư đến.
Trong hơn 5.000 năm qua, họ Bạch người Hán ở Trung Quốc hình thành và phát triển không chỉ từ cụ Tổ Bạch Phụ, mà còn xuất xứ từ một số cụ Tổ khác. Đó là những người không kế tục họ Bạch từ đời trước, mà là người đầu tiên chọn chữ Bạch làm tên tự, để lại họ Bạch cho hậu duệ đời sau kế thừa.
b) Cụ Tổ Doanh Bạch thời Xuân Thu
Gần 2.000 năm sau Bạch Phụ, ở Trung Quốc xuất hiện Cụ Tổ thứ Hai là Doanh Bạch, mang tính Doanh. Ông là hoàng tử con vua Tần Vũ Công (697 – 678 trước Công nguyên) thời Xuân Thu, nên còn gọi là Công Bạch, mang tính Doanh. Ngoài ra, ông còn mang tính Ưng, gọi là Ưng Bạch. Ông bị phế truất, không được thừa kế ngôi vua. Con cháu ông đã tiếp nối thị Bạch của ông, trở thành dòng họ Bạch có lịch sử hơn 2.700 năm.
Nhiều nhà danh tính học coi Doanh Bạch khởi phát một dòng họ Bạch mà sau này dẫn đến Bạch Khởi ở nước Tần thời Chiến Quốc.
c) Cụ Tổ Bạch Ất Bình thời Xuân Thu
Cụ Tổ thứ Ba là tướng quân Bạch Ất Bính, tính Kiển, tên thật là Kiển Bính. Sống ở nước Tần, đời vua Tần Mục Công, cách nay hơn 2600 năm. Ông có tổ tiên là người mang tính Giang từ thời Thần Nông. Con cháu của Bạch Ất Bính lấy tên Bạch Ất của ông làm họ, khởi nên một phái họ Bạch có lịch sử hơn 2.600 năm.
d) Cụ Tổ Bạch Công Thắng thời Xuân Thu – Chiến Quốc
Cụ Tổ thứ Tư là Bạch Công Thắng. Ông họ Mị, gọi là Mị Thắng. Ông có tổ tiên thuộc dòng dõi Hùng thị, nên gọi là Hùng Thắng. Từ cụ Tổ đầu tiên Bạch Phụ đến Bạch Công Thắng cách nhau khoảng 2.200 năm. Tổ tiên của Bạch Công Thắng thời Tam Hoàng cùng thế hệ với Bạch Phụ, là những “người hàng xóm” với Bạch Phụ, sau này hợp nhất với nhau thành Liên minh các bộ tộc Viêm (Thần Nông) và Hoàng (Hùng thị).
Bạch Công Thắng là con cháu Huyền đế Chuyên Húc thời Ngũ Đế. Sau khi cha là Thế tử Kiến nước Sở bị phế truất, Bạch Công Thắng lưu lạc nhiều nơi, rồi đến Ngô, cuối cùng quay về Sở, là vị tướng cầm quân tài giỏi, được phong chức Sào Đại phu nước Sở và được cấp cho đất Bạch. Nhân đó lấy tên là Bạch Công. Năm 479 trước Công nguyên ông làm chính biến, tự xưng Sở Vương rồi phải tự tử.
Sau khi Bạch Công Thắng chết, gia thần của ông phải tị nạn nhiều nơi. Con cháu có người lấy theo họ Bạch và ông trở thành Cụ Tổ họ Bạch có lịch sử hơn 2.500 năm. Một nhánh con cháu chạy đến nước Tần, phát triển thành họ Bạch ở Thiểm Tây, có hậu duệ là Bạch Khởi.
đ) Một số cụ Tổ khác của họ Bạch Trung Quốc
Ngoài bốn cụ Tổ nói trên, còn có chuyên gia đưa ra thuyết bảy cụ Tổ. Ba cụ Tổ khác được nhắc đến là Bạch Phần, bắt nguồn từ họ Giang ở thời Tây Chu; Bạch Khởi nhà cầm quân thời Chiến Quốc và Bạch Thu Từ thời Tần Hán[7].
Tuy nhiên, các chuyên gia đã dẫn nhiều lý do để kết luận rằng Bạch Khởi là hậu duệ của Bạch Công Thắng, đồng thời cũng không khẳng định được Bạch Phần và Bạch Thu Từ là những người không thừa hưởng họ Bạch từ tổ tiên. Vì thế giả thuyết của Bạch Phương Mao nêu ở đây để tham khảo thêm.
3. Các nhánh họ Bạch từ Trung Quốc về Việt Nam
Người Hán và nhiều dân tộc thiểu số ở Trung Quốc có họ Bạch. Nhưng theo các dấu vết hiện có, chỉ có họ Bạch của người Hán tị nạn chính trị và của một số dân tộc ở các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc chạy về Việt Nam do con đường chiến tranh. Cụ thể có ba giả thuyết đang được xem xét.
a) Nhánh họ Bạch người Hán từ Bạch Khởi thời Chiến Quốc
Bạch Khởi là hậu duệ của Sở Vương Bạch Công Thắng. Ông là danh tướng trong lịch sử Trung Quốc, nhà cầm quân tài ba nhất thời Chiến Quốc, lập nhiều chiến công cho nhà Tần, tạo tiền đề cho Tần Thủy Hoàng sau đó thống nhất Trung Hoa. Sinh thời Bạch Khởi được phong tước Vũ An quân (Thừa tướng), giữ chức Đại lương tạo, coi hết việc quân của nước Tần, được các sử gia Trung Quốc đánh giá là một trong những tướng lĩnh xuất sắc nhất lịch sử. Do bộc trực thẳng tính, xúc phạm đến Tần Chiêu Tương Vương mà bị ép phải chết năm 257 trước Công nguyên.
Năm đó con cháu ông phải trốn chạy nhiều nơi. Hơn 50 năm sau họ lại phải tiếp tục chạy vì nhà Hán xét lại tội giúp nước Tần trước đó của Bạch Khởi. Có nhóm về Việt Nam cuối thời Âu Lạc, đầu thời Nam Việt, cách đây hơn 2.200 năm, khởi nguyên cho dòng họ Bạch người Hán di cư ở nước ta.
Hậu duệ nổi tiếng của Bạch Khởi ở Trung Quốc là Bạch Cư Dị thời Đường. Cụ là hậu duệ thứ 36 kể từ Bạch Khởi. Còn ở Việt Nam có nhiều người họ Bạch đỗ đại khoa, nhiều danh tướng giúp các triều đại giữ nước và dựng nước[2].
Nhánh họ Bạch người Hán về Việt Nam thời đó sống với người Việt cổ ở Bắc Giang. Đến thời Tiền Lý Nam Đế di chuyển đến Vôi Giếng. Từ thời Lý trở đi trở thành một dòng họ danh tiếng, tỏa đi nhiều nơi khắp cả nước. Dấu vết của nhánh này được cụ Hoàng Giáp Bạch Đông Ôn ghi trong Phả ký cuối thế kỷ 19[8].
b) Nhánh họ Bạch người Lạc Việt từ Bạch Châu thời nhà Lý
Bạch Châu là một quận của người Lạc Việt, nay thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Họ Bạch xuất hiện ở đây đời vua Đường Cao Tổ (năm 635), khi quận này đổi tên thành Bạch Châu. Một số cư dân đã lấy tên quận làm họ.
Cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt đem quân đánh Tống để phá kế hoạch xâm lược nước ta, ông chiếm được ba châu Ung, Khâm, Liêm. Ông đã bắt theo nhiều tù binh mang về nước, đưa vào khai hoang vùng Hoan Diễn. Có thể, trong số tù binh đó có người họ Bạch. Tuy nhiên, hiện chưa có gia tộc nào lưu lại dấu vết của nhánh họ Bạch này.
c) Nhánh họ Bạch người Bạch từ Đại Lý (Vân Nam)
Đó là trường hợp được một số người ở Nghệ An kể về gia đình cụ Bạch Ngọc Trác cùng hai con trai là Bạch Liêu, Bạch Dũ Quang từ Vân Nam về Nghệ An[9]. Theo đó, vào giữa thế kỷ 13, nước Đại Lý bị quân Nguyên Mông thôn tính, gia đình này là người Bạch, vì mất nước phải lưu vong về Việt Nam đời nhà Trần, đổi sang họ Bạch. Từ đó hình thành họ Bạch ở Việt Nam. Giả thuyết này có nhiều điểm bất cập, thiếu logic, mâu thuẫn với nhiều nguồn tư liệu khác, cần được xem xét lại.
Tóm lại, ngoài Phả ký của cụ Bạch Đông Ôn cần tiếp tục nghiên cứu, để tìm kiếm đầy đủ hơn các dấu vết, tư liệu về họ Bạch từ Trung Quốc về Việt Nam.
3. Họ Bạch bản địa của người Việt cổ ở nước ta
Nguồn gốc và sự xuất hiện họ Bạch bản địa ở Việt Nam không được nhắc đến trong bất kỳ tư liệu lịch sử nào của cả Việt Nam và Trung Quốc. Chúng ta phải đi tìm trong các thần tích, thần phả và gia phả của một số gia tộc, cũng như thông qua mối liên hệ giữa họ Bạch với các di sản văn hóa, dân tộc của người Việt cổ.
Từ lâu, họ Bạch được thừa nhận là một trong bốn dòng họ nhà Lang lớn của người Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hoàng. Người Mường vốn cùng nhóm ngữ hệ Việt Mường với người Kinh. Do sống ở các xứ Mương, ít bị Hán hóa, nên còn mang nhiều đặc điểm của người Việt cổ. Các họ nhà Lang của người Mường có thể đã có từ khi xuất hiện chế độ quan lang của nhà nước Văn Lang.
Theo “Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc Phả”, chế độ lang đạo xuất hiện sau khi Lạc Long Quân và Âu Cơ mỗi người dẫn 50 con chia nhau lên rừng, xuống biển, mở mang bờ cõi. Bấy giờ Văn Lang có 15 bộ, chia thành trăm vùng, trăm họ, đặt trăm vương, trăm quan (lang)… để giúp vua trị nước.
Ở đình miếu nhiều địa phương Bắc Bộ còn lưu giữ sự tích các thần họ Bạch đã có công phò tá vua Hùng giữ nước và dựng nước, được phong thần, lưu danh trong các thần phả, được thờ cúng cho đến ngày nay.
Hiện trong danh sách tên Thần lưu ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm[[10]], vị thần họ Bạch xuất hiện sớm nhất là ở thời vua Hùng Định Vương – đời vua Hùng thứ 9 trong giai đoạn 1375 – 1252 trước Công nguyên. Đó là thần Bạch Công, được tôn là Bạch Đế Đại Vương, sắc phong là Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, có thần tích thờ tại thôn Ngọc Nhi, xã Tiên Phú, tổng Khải Xuân, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Thời đó ở Văn Lang chưa có họ phụ hệ. Tương tự như cụ Tổ Bạch Phụ ở Trung Quốc thời Thượng cổ (Bạch là tên tự trong chữ Bạch Công), bản thân Bạch Công vẫn mang họ mẫu hệ (tính) của Hùng Định Vương. Tuy nhiên, cụ là người đầu tiên có chữ Bạch trong tên họ mà thần tích còn ghi lại. Nếu coi cụ Bạch Công là tổ họ Bạch người Việt, thì họ Bạch Việt Nam có lịch sử gần 3.500 năm trước.
Họ Bạch người Việt cổ theo dòng lịch sử đã di chuyển, mở rộng địa bàn cư trú, phân hóa thành các dân tộc Kinh và Mường ngày nay trên hầu hết các tỉnh, thành phố cả nước.
Cùng với người di cư từ Trung Quốc đã “Việt hóa” thành người Việt, họ Bạch Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, trở thành dòng họ danh tiếng kể từ thế kỷ thứ 10[8].
Họ Bạch từ miền Bắc vào đến miền Trung bắt đầu từ đầu thế kỷ 14, sau khi nhà Trần gả Huyền Trân Công chúa cho vua Chăm là Chế Mân năm 1306. Vua Chăm nhượng hai Châu Ô và Châu Lý cho Đại Việt làm quà cưới. Nhà Trần di dân vào đó để Việt hóa vùng đất này. Có thể trong số đó có người họ Bạch, lập nên họ Bạch ở Thừa Thiên Huế.
Sau này, thời “Hồng Đức thịnh thế” triều vua Lê Thánh Tông, Đại Việt mở mang nhiều vùng lãnh thổ vào Nam Trung Bộ, đến tận phía bắc Khánh Hòa ngày nay, tạo điều kiện cho dân Việt từ phía Bắc di cư vào đó lập trang ấp. Thời nhà Nguyễn mở nước vào phía Nam, họ Bạch cũng từ Bắc Trung Bộ tỏa đi nhiều tỉnh ở miền Trung và miền Nam.
Đến thế kỷ 17, cuộc nổi dậy “Phản Thanh Phục Minh” thất bại, đội quân “Minh Hương” từ Lưỡng Quảng chạy xuống Việt Nam những năm 1679. Các đoàn người Hoa được nhà Nguyễn cho vào Nam định cư ở các tỉnh miền Tây và Đông Nam Bộ. Họ cùng với các dòng di cư nhiều đợt khác nhau, như dòng đi theo Mạc Cửu vào Hà Tiên, dòng từ miền Bắc đi theo chúa Nguyễn, đi theo Tây Sơn lập nên các nhánh họ Bạch người Việt, người Hoa ở Nam Bộ, tập trung đông ở khu vực TP Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Bình Dương và một số tỉnh Tây Nam Bộ.
Sau sự sụp đổ của nhà Tây Sơn năm 1802 là giai đoạn có nhiều biến động của họ Bạch. Có người từ Sài Gòn Gia Định chạy ra miền Trung. Có người lên Tây Nguyên cải trang thành dân tộc Chăm. Từ xã Mã Thành, Yên Thành, Nghệ An họ Bạch chạy đi nhiều địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Nhiều gia đình bỏ quê Nghệ An, chạy ra Thanh Hóa, Hưng Yên, Hải Dương và có thể một số tỉnh khác ở Bắc Bộ.
Các cuộc khởi nghĩa thời Pháp thuộc, rồi cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp đã thu hút hàng triệu người vào các dòng dịch chuyển. Đến khi hòa bình lập lại, đường lối phát triển kinh tế mới cũng tạo ra những đoàn người đi khai hoang miền núi. Từ đó xuất hiện thêm các nhánh họ Bạch ở vùng cao Lào Cai, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Đăk Lăk, Kon Tum, Đăk Nông… Gần 40 năm đổi mới đất nước, sự dịch chuyển lao động ở Việt Nam ngày càng năng động. Họ Bạch theo đó mà có mặt ở hầu hết các tỉnh thành phố cả nước.
Cho đến nay ngẫm lại, mới thấy sự thế vật đổi sao dời. Đối với dòng họ có sở trường thiên di như họ Bạch, các cuộc đi tìm vùng đất mới là khát vọng của mỗi thế hệ. Những nơi trước đây một thời từng là trung tâm họ Bạch bản địa gốc Việt, như Đất Tổ vua Hùng, xứ Mường Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa; hoặc Bắc Giang là điểm đến đầu tiên của họ Bạch di cư gốc Trung Quốc,… thì nay ở những nơi đó họ Bạch chỉ còn thưa thớt, không đông đúc theo quy luật sinh sôi như ta tưởng. Trong khi ở những nơi kinh tế xã hội phát triển sôi động, họ Bạch tập trung đông đúc hơn. Xuất hiện những trung tâm họ Bạch mới từ nhiều làng xã, nhiều miền quê, nhiều nguồn gốc, xuất xứ đổ về Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… Thậm chí trên Tây Nguyên cũng đang hình thành các cộng đồng lớn họ Bạch đông đúc.
Hiện nay, theo tính toán sơ bộ, cả nước có trên trăm gia tộc và nhóm người họ Bạch độc lập, có mặt ở hầu hết 63 tỉnh, thành phố cả nước. Ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, đa số họ Bạch vẫn sống quần tụ thành các gia tộc. Khu vực Hà Nội có các gia tộc ở các phường Mộ Lao, La Khê, Ngọc Trục, Yên Phúc thuộc Hà Đông; Khương Trung thuộc Thanh Xuân; các xã Tuy Lai (Mỹ Đức), Ba Trại (Ba Vì), Hoàng Văn Thụ, Trần Phú (Chương Mỹ), Phú Túc (Phú Xuyên), Nghiêm Xuân (Thường Tín) và nhiều cụm họ Bạch từ các địa phương về sống và làm việc tại các quận Hà Nội;
Khu vực Bắc Giang có cụm bốn nhánh họ ở thị trấn Vôi và các xã của huyện Lạng Giang; ở Xương Lâm, Nhã Nam, Lục Ngạn…
Khu vực Bắc Ninh có cụm gia tộc ở thị trấn Lim (Tiên Du), xã Nhân Thắng (Gia Bình), ở các phường của TP Bắc ninh…
Khu vực Vĩnh Phúc có các gia tộc ở các xã Đại Đồng, Nghĩa Hưng thuộc huyện Vĩnh Tường, xã Yên Châu huyện Yên Lạc; ở Tam Dương…
Khu vực Hòa Bình có cụm các gia tộc ở các xã Tú Sơn, Hùng Sơn, Đú Sáng huyện Kim Bôi; các xã Cư Yên, Thanh Cao, Liên Sơn, Thành Lập huyện Lương Sơn và các cụm người họ Bạch ở TP Hòa Bình và một số huyện khác…
Khu vực Hà Nam có các gia tộc ở Lạc Tràng thị xã Phủ Lý; xã An Đổ huyện Bình Lục; Đồng Văn huyện Duy Tiên; xã Tượng Lĩnh huyện Kim Bảng; ở Thanh Liêm…
Khu vực Nghệ An có các gia tộc ở Mã Thành (Yên Thành); Hưng Phú (Hưng Nguyên); Thanh Yên (Thanh Chương); Quỳnh Liên (Hoàng Mai). Từ Nghệ An các nhánh họ Bạch đã tỏa đi nhiều tỉnh: Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn…
Khu vực Thừa Thiên Huế có 8-9 chi nhánh, trong đó có các gia tộc ở Lộc Bổn (Phú Lộc); Phú Hồ, Phú Mỹ (Phú Vang)…
Khu vực TP Hồ Chí Minh có các cụm họ Bạch người Việt ở Thủ Đức; người Hoa ở Thành phố và nhiều cụm khác ở các vùng lân cận như Binh Dương, Đồng Nai và các gia tộc ở Long An, Trà Vình và các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
(Theo “Họ Bạch Việt Nam – Hành trình đi tìm tổ” của Bạch Quốc Khang)
[1] Lê Trung Hoa: Tên, họ người Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Tái bản 2005 [68]
[2] Bạch Quốc Khang: Họ Bạch Việt Nam – Hành trình đi tìm tổ. Nxb Thanh Niên, 2024.
[3] Vương Vĩnh Vệ: Họ Bạch cổ tỏa sáng trên trái đất. vjiazu.com, 2014 [37.0.2]
[4] Bạch Chấn: 炎帝之臣——白阜的传说, CNKI. Baidu.com [23.1]
[5] Nguyễn Trần Hoàng: Cần khoa học khi nhận định về nguồn gốc dân tộc Việt. Nghiên cứu quốc tế, 29/4/2020 [75.2.5]
[6] Hà Văn Thùy: Tổ tiên người Trung Quốc là ai. Nghiên cứu lịch sử, 3/12/2018 [75.2.5.1] [7] 白凤毛: 中 华白氏, 2005 (Bai Fengmao: Zhonghua Baishi, 2005)
[8] Bạch Đông Ôn: Phả ký họ Bạch Lạc Tràng. Tài liệu lưu giữ tại gia tộc họ Bạch Lạc Tràng, Phủ Lý, Hà Nam.
[9] Bạch Ngọc Hải: Lịch sử dòng họ Bạch ở Việt Nam. Trên trang Việt Nam gia phả, ngày 10/7/2023 và một số tác giả khác
[10] Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Di sản Hán Nôm. Tên thần. [106]




