NGƯỜI HỌ BẠCH TIÊU BIỂU THỜI QUÂN CHỦ

TSKH Bạch Quốc Khang giới thiệu

Để tránh phân đoạn phức tạp các thời kỳ lịch sử, chúng tôi gọi thời quân chủ ở nước ta là từ sau thời Trưng Vương (giữa thế kỷ I) cho đến cuối nhà Nguyễn, khi nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp (1884).

Trong các thần tích, thần phả, gia phả và tài liệu lịch sử nước ta hiện chỉ tìm thấy các nhân vật họ Bạch dưới đây. Chắc chắn còn có những danh nhân họ Bạch nằm ngoài các nguồn tư liệu này. Trước mắt, xin giới thiệu với các bạn các nhân vật sau:

1) Tướng Bạch Địa

2) Tướng Bạch Tượng thời nhà Đinh (966-968)

Bạch Địa, Bạch Tượng là hai anh em, con của trưởng tộc Bạch Lân ở châu Hoan. Khi Đinh Bộ Lĩnh phất cờ nghĩa dẹp loạn 12 xứ quân năm 966, hai anh em cùng người em họ con dì tên là Đỗ Đài từ Nghệ An đến phủ Ứng Thiên (nay là Ứng Hòa, Hà Nội), thu nạp trai tráng lập nên trang Nguyễn Xá, rồi theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp sứ quân ở Sơn Tây.

Sau ngày mất, các ông được phong thần, là Đông Hải Bạch Tượng Đại Vương, Bạch Tượng Tôn Linh Đại Vương Tôn Thần; Bạch Địa Đại Vương Tôn Thần. Người dân khu Động Phí lập miếu thờ anh cả Bạch Tượng, dân khu Ngọc Động thờ Bạch Địa, còn dân khu Nguyễn Xá thờ Đỗ Đài và thờ chung ba anh em tại Miếu Cò. Các tướng còn được thờ ở xã Mai Đình, tổng Mai Đình, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.

3) Tướng Bạch Đa thời nhà Đinh (966-968)

Ở tỉnh Bắc Ninh có thần tích thờ Bạch Đa (Bạch Đa Linh Ứng Đại Vương, Bạch đa xung hóa… Đại Vương) là vị tướng thời Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 xứ quân tại xã Đại Vi, tổng Đại Vi, huyện Tiên Du và xã Đông Dư, huyện Gia Lâm.

Bạch Đa quê ở Hoa Lư, Ninh Bình, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được nhà họ Trương đón về nuôi. Khi Đinh Bộ Lĩnh nổi lên khởi nghĩa, Bạch Đa cùng với hai anh họ sinh đôi là Trương Ngọ, Trương Mai đứng ra giúp sức, được phong chức Đô Úy.

Ba ông mộ được mấy nghìn quân, đóng ở chùa trang Bối Khê, đạo Sơn Nam, nay thuộc xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Ba ông đã hy sinh trong trận đánh Đại Vi. Dân làng cảm phục lập đình Đại Vi ở Tiên Du, Bắc Ninh thờ phụng. Các triều Vua phong ba ông làm Phúc thần. Riêng Bạch Đa còn được thờ ở đình Đông Dư Hạ và đình Đông Dư Thượng, Gia Lâm, Hà Nội

4) Tướng Bạch Quốc thời nhà Đinh (966-968)

Ở tỉnh Phú Thọ có thần tích thờ Bạch Quốc (Bạch Thạch Quốc Đô Đại Vương) cũng là vị tướng theo Đinh Tiên Hoàng.

Bạch Quốc quê làng Phú Động, xã Sơn Cương, tổng Hoàng Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Ông có công giúp Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp xứ quân Kiều Thuận ở Cẩm Khê, Phú Thọ. Khi mất được phong thần là  Bạch Thạch Quốc Đô Đại Vương, được dân lập đền thờ tại quê nhà xã Phú Động.

5) Bạch Lang Nhân Hậu Đại Vương triều Lý (1009 – 1225)

Hiện nay ở xã Hạ Cát huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên có sự tích về vị thần triều Lý là Bạch Lang Nhân Hậu Đại Vương, có công giúp triều Lý đánh giặc ngoại xâm, khi mất được phong thần.

6) Bạch Tẩu Đại Vương triều Lý (1009 – 1225)

Hiện nay ở các thôn Ngọ Nghi, Thượng Chế, Tiên Quán, xã Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên có thần tích thờ vị thần triều Lý là Bạch Tẩu Đại Vương. Bà sống ở thời Lý, có công giúp nước, khi mất được phong thần.

7) Trại Trạng nguyên Bạch Liêu triều Trần (1236 – 1315)

Ông sinh ngày 15 tháng Giêng năm Bính Thìn (1236), cha là Bạch Ngọc Trác, một nhà nho học nghèo, giàu lòng yêu nước, làm nghề dạy học và cắt thuốc Bắc, chữa bệnh cứu người. Quê ông ở làng Nguyên Xá, huyện Đông Thành, nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Hiện có nhiều tư liệu nói khác nhau về nơi sinh của ông.

Bạch Liêu từ nhỏ nổi tiếng thần đồng, sáu tuổi biết đọc, bảy tuổi biết làm thơ, 15 tuổi đã tiếng tăm vang lừng khắp quận. Ông là người thông minh nhớ lâu, “đọc sách 10 dòng trong một nháy mắt”, 30 tuổi đỗ Trại Trạng nguyên năm Thiệu Long thứ 9 đời Trần Thánh Tông (1266). Ông là vị Trạng nguyên quân sư, cụ Tổ khai khoa xứ Nghệ, được chính sử nước ta ghi nhận là nhân tài. Bạch Liêu không ra làm quan, nhưng đã giúp Trần Quang Khải hoạch định chiến lược phát triển vùng Hoan Diễn trong “Biến Pháp Tam Chương”, tham mưu cho nhà Trần trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.

8&9) Hai anh em tiến sĩ Bạch Quốc Hiên, Bạch Quốc Viên triều Trần (thế kỷ 13)

Hai ông đều thi đỗ Đệ Tam giáp xuất thân Đồng Tiến sĩ xuất thân thời Trần, nhưng hiện nay chưa tìm thấy tên hai ông trên các văn bia Văn Miếu, cũng như trong danh sách các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 – 1919). Có thể hai ông nằm trong số các tiến sĩ còn chưa tổng hợp được.

Hiện nay, trên bia mộ ở xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam còn ghi rõ: “Tổ Bạch Quốc Hiên, tiến sỹ đời nhà Trần, ngày giỗ 3 tháng 3”.

Hai ông là họ Bạch người Hán Trung Quốc, di cư về Việt Nam những năm cuối triều An Dương Vương (cách nay hơn 2.200 năm). Sau đó chuyển về Hà Nam thế kỷ 13, tạo nên quần thể họ Bạch ở Phủ Lý, Kim Bảng, Bình Lục, Đồng Văn… hiện nay.

10) Công chúa Bạch Tịnh triều Lê

Ở xã Ngô Xuyên, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên có thần tích về vị thần là Bạch Tịnh Phu Nhân Công Chúa. Bà sống ở thời Lê có công giúp nước, được phong thần.

11) Tướng quân Bạch Công thời Lê Nhân Tông (1441 – 1459)

Là tướng quân thời Lê Nhân Tông, có công giúp nhà Lê đánh Chiêm Thành phía Nam, mở mang bờ cõi Đại Việt. Khi mất được phong thần. Hiện nay ở xã Đột Lĩnh, Tổng Cao Đôi, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương vẫn lưu giữ các thần tích về Phục Công, Thống Công, Đức Công và Bạch Công thời Lê Nhân Tông.

12) Tiến sĩ Bạch Hồng Nho triều Mạc (1506 – ?)

Ông sinh năm Bính Dần (1506), người xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, nay là thôn Duệ Đông, Thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Làng ông ở ngay Đồi Lim.

Ông là người thông minh xuất chúng. Ông học chung thày với Giáp Hải người làng Kế trong vùng, được thày và các đồng môn dự đoán đi thi sẽ đỗ trạng nguyên. Đúng năm triều đỉnh mở kỳ thi mẹ ông mất, ông phải ở nhà chịu tang báo hiếu. Năm đó Giáp Hải đi thi đỗ Trạng nguyên, còn gọi là Trạng Kế.

Biết tài của Hồng Nho, Giáp Hải tiến cử ông với triều đình làm Hàn lâm thị giảng, nhưng ông từ chối.

Năm 36 tuổi Bạch Hồng Nho đỗ Đệ Tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Sửu, niên hiệu Quảng Hòa năm đầu, đời Mạc Phúc Hải (1541). Làm quan đến chức Thừa chính sử. Không rõ mất năm nào.

Bắc Ninh ngày nay cũng là tỉnh có quần thể họ Bạch khá đông đúc, trong đó họ Bạch ở Duệ Đông là một trung tâm có truyền thống lâu đời.

13) Trinh thục Phu nhân Bạch Thị Phúc thời chúa Trịnh Tráng (1577 – 1657)

Bà là phu nhân của Trịnh Tráng, chúa Trịnh thứ hai thời Lê Trung hưng, chính thức xưng vương khi còn tại vị, nắm thực quyền cai trị miền Bắc nước Đại Việt từ năm 1623 đến 1657. Bà được Trịnh Tráng yêu quý, phong là Phúc Nương, Bạch Thị Phúc Nương Trinh Thục Phu Nhân. Khi mất được phong thần, nay còn lưu thần tích thờ tại thôn Bảo Lộc, xã Khai Lộc, tổng Tất Lại, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

14) Tướng quân Bạch Lễ (chưa rõ thời nào)

Ông là tướng quân, lập nhiều công trạng. Khi mất được phong Bạch Lễ Đình Anh Vũ Dũng Lược Đại Vương, có thần tích thờ ở xã Hạ Đỗ, tổng Hà Nhuận, huyện An Dương, tỉnh Kiến An, nay thuộc Hải Phòng.

15) Tướng quân Bạch Hiệu Sinh thời Lê Trung Hưng (nửa đầu thế kỷ 17)

Ông là người họ Bạch ở Mộ Lao, nay thuộc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Tên là Hiệu Sinh, tự là Đoài Nhân. Không rõ năm sinh, năm mất. Là danh tướng thời Lê Trung Hưng, sống nửa đầu thế kỷ 17. Ông được phong chức Phúc Đức Hùng Lược kiêm Tư quốc Ân ngưỡng hà, được tiến thăng Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ, đồng Đô chỉ huy Sứ ty Triều cường hầu. Thọ 70 tuổi.

Các hậu duệ của ông đã tiếp nối truyền thống võ nghệ, làm nên đất võ Mỗ Lao với hàng trăm sĩ quan, hàng chục đại tá qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Làng Mộ Lao có 101 liệt sĩ, thì họ Bạch có 48 người và có ba Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng.

16) Tiến sĩ Bạch Phấn Ưng Triều Lê Trung Hưng (cuối thế kỷ 17)

Ông là danh thần thời Lê Trung Hưng. Sinh năm 1690 thời vua Lê Hy Tông (1676-1705). Không biết mất năm nào.

Bạch Phấn Ưng là người xã Cẩm Xá, huyện Gia Định, nay thuộc xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Bảo Thái thứ 5, đời Lê Dụ Tông năm 1724, khi 34 tuổi. Trước khi đi thi, ông đã làm Huấn Đạo. Sau khi đỗ tiến sĩ ông làm quan Chánh sứ Sơn Tây, Hàn lâm Viện Thừa chỉ([1]).

Trong Gia phả họ Bạch Lạc Tràng còn ghi Bạch Phấn Ưng được phong chức Đại tướng, khi đi sứ sang Trung Quốc đã được tặng sáu chữ: “Bạch gia Thiên Lý Câu Hỹ”, nghĩa là “Họ Bạch như ngựa Câu chạy giỏi ngàn dặm” và phong thêm là “Cẩm Khê hầu”.

Ông là người họ Bạch có cùng xuất xứ với các tiến sĩ Bạch Quốc Hiên, Bạch Quốc Viên ở Hà Nam, Bạch Hồng Nha ở Duệ Đông, Bắc Ninh…

17) Thượng thư Bạch Doãn Triều thời Nguyễn Ánh (thế kỷ 18)

Ông người Quảng Bình, đỗ đầu khoa thi hương năm 1768, được bổ Tri huyện Đồng Xuân. Là người dũng cảm, mặc dù theo Chúa Nguyễn, nhưng được Nguyễn Nhạc nề phục. Năm 1776 ông theo Chúa vào Gia Định, được thăng Thượng thư Lại bộ. Ông chết vì bệnh nặng khi Tây Sơn đánh vào Gia Định.

18) Hoàng Giáp Bạch Đông Ôn triều Nguyễn (1811 – 1881)

Ông sinh năm 1811. Quê ở xã Lạc Tràng, Kim Bảng cũ, nay thuộc phường Quang Trung, thành phố Phủ lý, tỉnh Hà Nam. Mất năm 1881, thọ 70 tuổi. Ông là danh thần triều Nguyễn, trải qua bốn đời vua: sinh ở thời Gia Long Nguyễn Ánh, thi đỗ Hoàng giáp dưới thời Minh Mạng, làm quan thời Thiệu Trị, mất thời Tự Đức,

Sinh thời, nổi tiếng là người thông minh. Năm 23 tuổi thi đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ (1834). Năm 25 tuổi đỗ Đệ Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Ất Mùi, niên hiệu Minh Mệnh thứ 16 (1835). Khoa này không lấy Trạng Nguyên.

Sau khi thi đỗ ông chỉ giữ chức quan bậc trung, làm đến Lang Trung, quan Ngự Sử. Tính tình cương trực, điềm đạm, sống giản dị, liêm khiết, nhiều lần can gián triều đình, mưu cầu bãi binh, dưỡng dân, ngăn chặn tham nhũng, vụ lợi, xét xử luôn công bằng, không nhận đút lót… Năm 1847, khi đang làm Lang trung bộ Lễ, ông dâng sớ xin nghỉ về quê chữa bệnh. Vua Thiệu Trị nổi giận, bắt phải “về hưu non” khi ông mới 36 tuổi. Ông nổi tiếng văn thơ, tính khiêm cung, được sĩ phu quí trọng.

Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ, ông tính việc khởi nghĩa, nhưng việc bại lộ, bị giặc bắt. Khi chết được vua Tự Đức tặng bốn chữ “Thanh bạch vi thủ” và truy phong sắc: “Diên thọ quận công“.

(Còn tiếp)

Nguồn:

[1] Viện Nghiên cứu Hán nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam;

[2] Bạch Quốc Khang: Họ Bạch Việt Nam – Hành trình đi tìm tổ,  Nhà xuất bản Thanh Niên, 2024.

[3. Các tư liệu được dẫn trong [2]

[1] Nguyễn Quang Khải: Văn bía Văn miếu Bắc Ninh. Nxb Văn hóa dân tộc, H. 2000, tr 286. [1.2]

Đến Phú Động thờ tướng quân Bạch Quốc thời nhà Đinh
Đình làng Đại Vị thờ tướng quân Bạch Đa thời nhà Đinh
Đình Ngọc Động thờ các tướng quân Bạch Địa, Bạch Tượng thời nhà Đinh
Tấm gương hiếu học Bạch Liêu
Mộ Tổ Trại Trạng nguyên Bạch Liêu

TSKH Bạch Quốc Khang

#guongmathobachtieubieu

#nhungnguoihobachtieubieutrongnuoc

#thuvienthamkhao #hobach #hobachvietnam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *